Bạn ghi kích thước một bức tường dài 4 mét. Máy vẽ ra hai đường gióng và một đường ngang, nhưng số đo thì không thấy đâu, mũi tên cũng không. Phóng to hết cỡ mới thấy một chấm mờ ở giữa.
Đó không phải lỗi. Đó là chỉnh dimstyle trong CAD chưa đúng, cụ thể là một con số duy nhất tên DIMSCALE. Ảnh đầu bài là cùng một đường kích thước 1000 vẽ ba lần, chỉ khác con số ấy: ở mức 1 thì trống trơn, ở mức 100 thì đọc được. Bài này viết theo bản AutoCAD 2027. Nếu bạn muốn học trọn phần ghi kích thước, Viện có khóa AutoCAD cho ngành xây dựng.
Cách gọi lệnh dimstyle trong CAD
Bảng dưới theo tệp giao diện acad.cuix của bản 2027.
| Lệnh | Lệnh tắt | Ribbon | Menu cổ điển |
|---|---|---|---|
DIMSTYLE | D, DDIM, DIMSTY, DST | Home → Annotation → Dimension Style | Dimension → Dimension Style |
DIMOVERRIDE | DIMOVER, DOV | Annotate → Dimensions → Override | Dimension → Override |
Lệnh này có tới bốn lệnh tắt, nhiều bất thường. Phần lớn người dùng chỉ biết chữ D. Người tìm bằng tiếng Anh hay gõ dimstyle autocad hoặc autocad dimstyle, cùng trỏ về đây.
Gõ D là mở hộp thoại Dimension Style Manager. Còn muốn chạy trên dòng lệnh thì có bản gạch nối, và đây là điều đo được mà ít nơi nhắc:
Current dimension style: Standard Annotative: No
Enter a dimension style option [ANnotative/Save/Restore/STatus/Variables/Apply/?] <Restore>:
Lựa chọn STatus in ra toàn bộ biến dim đang dùng. Nó tiện khi nhận bản vẽ lạ và muốn biết người trước đã đặt gì, mà không phải mở hộp thoại rồi bấm qua từng thẻ.
Chỉnh dimstyle trong CAD chỉ cần một con số
Đây là phần đo đạc chính của bài, và tin tốt là chỉnh dimstyle trong cad trong phần lớn trường hợp gói gọn ở một biến duy nhất.
Vẽ cùng một đường kích thước dài 1000, đường đo đặt cách 300, rồi đổi DIMSCALE qua ba mức và đo khung bao của chính đối tượng kích thước ấy.
DIMSCALE | Khung bao cao | Dôi ra so với 300 | DIMTXT × DIMSCALE |
|---|---|---|---|
| 1 | 300,18 | 0,18 | 0,18 |
| 20 | 303,60 | 3,60 | 3,60 |
| 100 | 318,00 | 18,00 | 18,00 |
Phần dôi ra khớp chính xác với tích của chiều cao chữ gốc nhân hệ số, ở cả ba mức. Không lệch một phần trăm nào.
Nghĩa là DIMSCALE không phải một thứ mơ hồ: nó là hệ số nhân, và nó nhân đúng mọi kích thước vẽ ra. Autodesk mô tả mục tương ứng trong hộp thoại trên trang Fit Tab của bản 2027: "sets a scale for all dimension style settings that specify size, distance, or spacing, including text and arrowhead sizes".
Chiều cao chữ gốc mặc định là DIMTXT = 0,18. Với bản vẽ xây dựng tính bằng milimét, chữ cao 0,18 mm là vô hình. Đó chính là lý do đường kích thước ở hàng dưới cùng của ảnh đầu bài trông trống trơn: chữ và mũi tên vẫn có đó, chỉ là nhỏ hơn nét vẽ.
Quy tắc thực dụng: bản vẽ in ở tỉ lệ 1:100 thì đặt DIMSCALE bằng 100; tỉ lệ 1:50 thì đặt 50. Gõ DIMSCALE, nhập số, Enter — xong, không cần mở hộp thoại nào.
Cách chỉnh dimstyle trong AutoCAD qua hộp thoại
Gõ D rồi Enter là hộp thoại Dimension Style Manager mở ra. Bấm Modify để sửa kiểu đang dùng, hoặc New để tạo kiểu mới.
Hộp thoại sửa kiểu có bảy thẻ, theo tài liệu Autodesk: Lines, Symbols and Arrows, Text, Fit, Primary Units, Alternate Units, Tolerances.
| Thẻ | Chỉnh cái gì |
|---|---|
| Lines | Đường kích thước và đường gióng: màu, nét, phần nhô ra, khoảng hở chân |
| Symbols and Arrows | Kiểu và cỡ mũi tên, ký hiệu tâm |
| Text | Kiểu chữ, chiều cao, vị trí chữ so với đường |
| Fit | Hệ số tỉ lệ chung, và xử lý khi chỗ quá chật |
| Primary Units | Đơn vị, số chữ số thập phân, tiền tố và hậu tố |
| Alternate Units | Đơn vị phụ ghi kèm trong ngoặc |
| Tolerances | Dung sai |
Thẻ đáng vào nhất là Fit, mục Scale for Dimension Features, ô Use overall scale of. Đó chính là DIMSCALE dưới dạng giao diện.
Lời khuyên từ thực tế: đừng sửa kiểu Standard. Tạo một kiểu mới đặt tên theo tỉ lệ, ví dụ IIC-100, rồi mỗi tỉ lệ một kiểu. Nhận bản vẽ của người khác mà thấy kiểu Standard bị sửa lung tung là chuyện thường ngày, còn kiểu có tên rõ ràng thì ai cũng hiểu.
DIMSCALE khác DIMLFAC thế nào
Đây là chỗ nhầm gây hậu quả nặng nhất, vì nó làm sai con số ghi trên bản vẽ chứ không chỉ xấu hình.
Hai biến nghe giống nhau nhưng làm hai việc trái ngược:
| Biến | Nó đổi cái gì | Mặc định đo được |
|---|---|---|
DIMSCALE | Cỡ nét vẽ: chữ, mũi tên, khoảng cách | 1,0 |
DIMLFAC | Chính con số ghi ra | 1,0 |
Đặt DIMSCALE bằng 100 thì chữ to lên trăm lần, còn số đo vẫn là 4000. Đặt DIMLFAC bằng 100 thì chữ vẫn bé tí, mà số đo hoá thành 400000.
Autodesk nói rõ về mục hệ số chung: "this scale does not change dimension measurement values" — nó không đụng vào giá trị đo. Ai thấy bản vẽ ghi kích thước sai gấp mấy lần thì kiểm DIMLFAC trước tiên, đừng kiểm DIMSCALE.
Cách chỉnh dim trong cad cho một đường riêng lẻ mà không đụng cả kiểu là dùng DIMOVERRIDE, lệnh tắt DOV. Nó ghi đè biến cho đúng những đường bạn chọn. Chuyện ghi kích thước nói chung nằm ở bài dim trong CAD.
Vài biến hay phải đụng tới
Ngoài DIMSCALE, đây là những biến mà người làm bản vẽ xây dựng hay phải chỉnh, kèm giá trị mặc định đo được trên máy:
| Biến | Mặc định | Ý nghĩa |
|---|---|---|
DIMTXT | 0,18 | Chiều cao chữ trước khi nhân hệ số |
DIMASZ | 0,18 | Cỡ mũi tên trước khi nhân hệ số |
DIMEXE | 0,18 | Phần đường gióng nhô quá đường kích thước |
DIMEXO | 0,0625 | Khoảng hở từ vật tới chân đường gióng |
DIMANNO | 0 | Kiểu có phải loại tự co giãn theo tỉ lệ không |
Ba biến đầu đều bị DIMSCALE nhân vào, nên chỉnh DIMSCALE một lần là cả ba theo. Sửa từng cái riêng chỉ cần khi bạn muốn tỉ lệ giữa chúng khác mặc định, ví dụ mũi tên nhỏ hơn chữ.
Biến DIMANNO là đường khác hẳn: kiểu chú thích tự co giãn theo tỉ lệ khung nhìn, khỏi cần đặt DIMSCALE tay. Cách ấy gọn với bản vẽ nhiều tỉ lệ, nhưng đòi cả bộ hồ sơ cùng dùng một lối, nên chỉ nên chọn khi cả nhóm thống nhất. Việc chọn lệnh tắt cho các lệnh hay dùng nằm ở bài lệnh tắt trong CAD.
Ba điều nhiều nơi bỏ sót
| Điều hay nghe | Bản 2027 thực sự làm gì |
|---|---|
| Dim không hiện số là do lỗi phần mềm | Không. Chữ vẫn có, chỉ nhỏ bằng DIMTXT × DIMSCALE |
DIMSCALE làm đổi số đo ghi ra | Không. Nó chỉ đổi cỡ nét; đổi số đo là DIMLFAC |
| Muốn chỉnh kiểu phải mở hộp thoại | Có bản -DIMSTYLE chạy trên dòng lệnh, kèm lựa chọn STatus để xem hết |
Tóm lại, chín trên mười trường hợp "dim bị lỗi" chỉ cần gõ DIMSCALE rồi nhập đúng tỉ lệ in là xong. Còn lại mới phải vào hộp thoại.
Có một thói quen đáng tập với hồ sơ nhiều bản vẽ. Trước khi ghi kích thước, xác định trước bản vẽ này sẽ in ở tỉ lệ nào, rồi đặt DIMSCALE ngay từ đầu. Ghi hết rồi mới phát hiện sai tỉ lệ thì vẫn sửa được, nhưng những đường đã bị kéo lệch bằng tay lúc chật chỗ sẽ lệch lại một lần nữa, và phải dọn từng cái.
Với bản vẽ nhận từ đơn vị khác, ba lệnh nên gõ ngay khi mở: DIMSCALE để biết hệ số, DIMLFAC để biết con số có bị nhân không, và -DIMSTYLE chọn STatus để xem toàn cảnh. Ba việc ấy mất chưa tới một phút và tránh được phần lớn hiểu nhầm về sau.
Câu hỏi thường gặp
Lệnh tắt để mở hộp thoại kiểu kích thước là gì?
D. Ngoài ra còn DDIM, DIMSTY và DST, cả bốn đều chạy.
Vẽ dim ra mà không thấy số đâu?
DIMSCALE đang để 1 trên bản vẽ tỉ lệ lớn. Gõ DIMSCALE, nhập đúng mẫu số tỉ lệ in, ví dụ 100.
Đặt DIMSCALE bao nhiêu là đúng?
Bằng mẫu số của tỉ lệ in. Bản 1:50 đặt 50, bản 1:100 đặt 100.
Số đo hiện ra sai gấp mấy lần thì sửa ở đâu?
Kiểm biến DIMLFAC, không phải DIMSCALE. DIMLFAC nhân vào chính con số.
Chỉnh riêng một đường kích thước mà không đụng cả kiểu?
Dùng DIMOVERRIDE, lệnh tắt DOV, rồi chọn đúng những đường cần sửa.
Có nên sửa thẳng kiểu Standard không?
Không nên. Tạo kiểu mới đặt tên theo tỉ lệ để người sau mở bản vẽ còn hiểu.