Ghi dim trong CAD thì ai cũng làm được sau mười phút. Rắc rối đến sau đó: con số nhỏ như kiến, chân đường gióng dài ngắn lộn xộn, chữ số tự nhảy đi chỗ khác, hoặc con số đổi theo hình mà bạn không muốn nó đổi.
Bốn rắc rối ấy có bốn nguyên nhân khác hẳn nhau, và mỗi cái nằm ở đúng một ô trong phần mềm. Bài này chỉ thẳng ô ấy. Muốn học trọn khâu dựng hình và triển khai hồ sơ thì xem khóa AutoCAD Xây Dựng.
Dim trong CAD gồm những bộ phận nào
Sửa đúng chỗ thì phải gọi đúng tên. Một đường kích thước có năm bộ phận, và tên tiếng Anh của chúng chính là tên các ô trong hộp thiết lập.
| Bộ phận | Tên trong phần mềm | Hay hỏng kiểu gì |
|---|---|---|
| Chữ số | Dimension text | Quá nhỏ, hoặc tự dời đi chỗ khác |
| Đường kích thước | Dimension line | Các lớp chồng khít lên nhau |
| Đường gióng | Extension line | Chân dài ngắn lộn xộn |
| Đầu mút | Arrowhead | Mũi tên đặc thay vì gạch chéo |
| Điểm gốc | Definition point | Mất liên kết nên con số sai |
Autodesk xếp kích thước thành năm loại cơ bản: thẳng, bán kính, góc, tọa độ và chiều dài cung. Chi tiết từng loại nằm ở trang About the Types of Dimensions.
Mọi thiết lập dưới đây nằm trong một chỗ duy nhất. Gõ D rồi Enter để mở hộp Dimension Style Manager, chọn kiểu rồi bấm Modify.
Cách chỉnh số đo kích thước trong CAD: một ô quyết định cả sáu cỡ
Đây là câu hỏi nhiều người tìm nhất, và câu trả lời hay bị nhầm sang lệnh SCALE. Hai việc ấy khác hẳn nhau. SCALE phóng to hình vẽ, còn thứ bạn cần là phóng to cỡ chữ và cỡ mũi tên của kích thước, trong khi hình giữ nguyên.
Một đường kích thước có sáu kích cỡ phải nhân theo tỷ lệ in: chiều cao chữ, cỡ đầu mút, khe hở đường gióng, đoạn thò của đường gióng, khoảng cách giữa hai lớp kích thước, và khe chữ tới đường. Nhân từng ô là việc mệt và dễ sót.
AutoCAD gom cả sáu vào một ô. Sang thẻ Fit, khối Scale for dimension features, đặt ô Use overall scale of bằng mẫu số của tỷ lệ in.
| Tỷ lệ in | Đặt Use overall scale of |
|---|---|
| 1:50 | 50 |
| 1:100 | 100 |
| 1:200 | 200 |
Ô này ứng với biến DIMSCALE. Trang DIMSCALE nêu hai giới hạn đáng nhớ. Thứ nhất, nó "does not affect measured lengths, coordinates, or angles" — con số đo được giữ nguyên, chỉ cỡ chữ to lên.
Thứ hai là chỗ hay làm người ta mất cả buổi. Hãng ghi rõ DIMSCALE "does not affect multileader objects created with the MLEADER command". Nghĩa là bạn đặt tỷ lệ cho kích thước xong, mấy dòng ghi chú có đường dẫn vẫn bé tí. Chúng nghe theo một biến khác tên MLEADERSCALE. Cách dựng ghi chú có đường dẫn nằm ở bài vẽ mũi tên trong CAD.
Chỉnh kích thước dim trong CAD khi một bản vẽ có nhiều tỷ lệ
Cách trên chỉ đúng khi cả tờ in một tỷ lệ. Hồ sơ thật thường có mặt bằng 1:100 nằm cạnh chi tiết 1:20 trên cùng một tờ.
Lúc ấy đừng khai con số. Tích ô Annotative ngay phía trên trong cùng khối Scale for dimension features. Phần mềm sẽ tự nhân theo tỷ lệ của từng khung nhìn, nên một kích thước hiện đúng cỡ ở cả hai chỗ.
Cách gọn nhất cho một văn phòng là dựng sẵn ba kiểu TCVN-50, TCVN-100 và TCVN-200, khác nhau đúng một ô, rồi lưu cả ba vào tệp mẫu. Về sau chỉ việc chọn kiểu theo tỷ lệ tờ đang vẽ.
Còn một mẹo ít người dùng. Biến DIMLAYER cho phép đặt sẵn một lớp riêng cho mọi kích thước mới, bất kể bạn đang đứng ở lớp nào. Nhờ thế bộ kích thước không bao giờ lẫn vào lớp nét, và tắt cả bộ chỉ bằng một cú bấm. Cách quản lý lớp nằm ở bài layer trong CAD.
Cắt chân dim trong CAD bằng đường gióng dài cố định
"Cắt chân dim" là cách gọi dân dã của một yêu cầu rất cụ thể: ép mọi đường gióng dài bằng nhau, thay vì đứa ngắn đứa dài chạy theo hình vẽ. Nhiều người đi tìm lisp cho việc này, trong khi AutoCAD làm sẵn bằng một ô đánh dấu.
| Số trên ảnh | Khối | Việc của nó |
|---|---|---|
| 1 | Bảy thẻ | Mỗi thẻ lo một nhóm thiết lập, thẻ đang mở là Lines |
| 2 | Dimension lines | Màu, nét, và Baseline spacing là khoảng cách giữa hai lớp |
| 3 | Extension lines | Đường gióng, gồm cả ô cắt chân ở cột phải |
| 4 | Ô xem trước | Hình mẫu đổi ngay theo mỗi ô bạn sửa |
Tích ô Fixed length extension lines rồi đặt số vào ô Length. Hai ô này ứng với hai biến DIMFXLON và DIMFXL. Trang DIMFXL định nghĩa nó là tổng chiều dài đường gióng, tính từ đường kích thước đi về phía điểm gốc.
Đây là cái bẫy làm nhiều người tưởng ô này hỏng. Trang About Controlling Extension Lines ghi rằng "The extension line offset distance from the origin will never be less than the value specified by the DIMEXO system variable". Khe hở giữa vật thể và chân đường gióng luôn được giữ, dù bạn đặt Length nhỏ đến mấy. Muốn chân ngắn hơn nữa thì phải hạ luôn ô Offset from origin ở ngay bên trên.
Nhớ là con số đặt ở hai ô này cũng bị Use overall scale of nhân lên. Đặt Length bằng 8 với tỷ lệ 100 thì chân đường gióng dài 800 đơn vị trong mô hình.
Sửa lỗi nhảy dim trong CAD
"Dim bị nhảy" thường là chữ số tự dời khỏi chỗ cũ sau khi bạn kéo hình, hoặc sau khi ai đó lỡ tay kéo một nút xanh. Nó không phải lỗi phần mềm, mà là bạn đã vô tình đặt cho chữ số ấy một vị trí riêng.
Cách chữa nhanh nhất nằm ngay trong phần mềm mà ít ai biết. Chọn kích thước, rê chuột lên nút xanh ở chữ số nhưng đừng bấm. Một menu bảy mục hiện ra, và mục cuối cùng là thứ bạn cần.
| Mục trong menu | Nó làm gì |
|---|---|
Stretch | Hành vi mặc định khi kéo nút |
Move with Dim Line | Dời chữ kèm theo cả đường kích thước |
Move Text Only | Dời riêng chữ, đường kích thước đứng yên |
Move with Leader | Dời chữ ra xa và nối lại bằng một đường dẫn |
Above Dim Line | Đặt chữ lên trên đường kích thước |
Center Vertically | Đặt chữ để đường kích thước cắt ngang giữa chữ |
Reset Text Position | Trả chữ về đúng chỗ mà kiểu kích thước quy định |
Mục Reset Text Position là nút chữa cháy. Autodesk mô tả nó đưa chữ về "its default (or "home") position based on the active dimension style". Chọn cả loạt kích thước bị lệch rồi dùng mục này là cả bản vẽ thẳng hàng lại.
Muốn tránh tái diễn thì đừng kéo nút chữ số bằng tay nữa. Cần dời thì dùng đúng mục trong menu trên, vì mỗi mục ghi lại một kiểu dời khác nhau.
Khi con số không còn đúng: dim liên kết với hình
Đây là kiểu "nhảy" nguy hiểm hơn hẳn: con số vẫn đứng yên nhưng không còn khớp với hình nữa. Nguyên nhân là mối liên kết giữa kích thước và hình đã đứt.
Trang About Associative Dimensions chia làm ba mức, đặt bằng biến DIMASSOC.
DIMASSOC | Kích thước thành gì | Sửa hình thì sao |
|---|---|---|
| 2 | Liên kết đầy đủ, mức mặc định | Con số tự đổi theo |
| 1 | Không liên kết nhưng vẫn là một đối tượng | Con số đứng yên |
| 0 | Rã thành nét, chữ và mũi tên rời | Không còn là kích thước nữa |
Liên kết còn đứt vì hai lý do mà hãng nêu rõ. Một là đối tượng bị sửa quá nhiều hoặc bị xóa. Hai là định nghĩa khối bị dựng lại làm cạnh gắn kích thước dời đi.
AutoCAD có sẵn một cái còi báo cho việc này, tên là Annotation Monitor. Bật nó lên thì mỗi kích thước mất liên kết sẽ đeo một huy hiệu nhỏ, bấm vào huy hiệu là hiện menu gọi thẳng lệnh sửa. Hầu như không hướng dẫn tiếng Việt nào nhắc tới nó, trong khi đây là cách duy nhất biết trước mà không phải dò tay.
Chữa bằng lệnh DIMREASSOCIATE: gọi lệnh, chọn kích thước, rồi bấm lại vào điểm trên hình. Dấu chữ thập trần nghĩa là điểm ấy chưa gắn, dấu chữ thập trong ô vuông nghĩa là đã gắn.
Một giới hạn nên biết trước khi mất công. Kích thước liên kết không đỡ được vài loại đối tượng, gồm mặt cắt tô, ảnh, nền chèn, đa tuyến kép và mảng đặc hai chiều. Ghi kích thước cho vùng tô thì đừng mong con số tự đổi, và cách dùng mặt cắt tô nằm ở bài lệnh hatch trong CAD.
Khóa dim trong CAD, và khi nào đừng khóa
Đôi khi bạn muốn điều ngược lại: giữ chặt con số, không cho nó đổi dù hình có sửa. Trường hợp thật hay gặp là bản vẽ hiện trạng đo tay, con số theo phiếu đo chứ không theo nét vẽ.
Lệnh làm việc ấy là DIMDISASSOCIATE. Gọi lệnh, chọn những kích thước cần khóa, Enter. Từ đó chúng không nghe theo hình nữa.
Trang DIMDISASSOCIATE nêu hai trường hợp lệnh bỏ qua không xử lý, và đây là lý do nhiều người tưởng lệnh không chạy. Kích thước nằm trên lớp đang khóa thì bị loại. Kích thước nằm ở không gian khác với không gian bạn đang đứng cũng bị loại. Lệnh in ra hai con số ở dòng lệnh: bao nhiêu cái bị loại và bao nhiêu cái đã khóa, nên đọc dòng ấy là biết ngay.
Cân nhắc trước khi khóa cả loạt. Khóa xong là mất luôn cái lợi lớn nhất của kích thước liên kết, tức là bản vẽ tự tố giác khi ai đó sửa hình mà quên sửa số. Chỉ khóa đúng những kích thước có lý do, đừng khóa cho tiện tay.
Câu hỏi thường gặp
Đổi tỷ lệ xong mà dim cũ vẫn giữ cỡ cũ?
Những kích thước ghi trước đó đang mang một kiểu khác, hoặc đang mang thiết lập riêng đè lên kiểu. Chọn chúng rồi gán lại kiểu vừa sửa trong bảng Properties, hoặc dùng MATCHPROP chép thuộc tính từ một kích thước đã đúng.
Cắt chân dim rồi mà chân vẫn thò ra một đoạn?
Đó là khe hở Offset from origin, tức biến DIMEXO. Phần mềm luôn giữ khe này dù ô Length đặt nhỏ đến mấy. Muốn ngắn hơn thì hạ luôn ô Offset from origin.
Chữ số kích thước nhảy lung tung sau khi tôi kéo hình?
Chọn kích thước, rê chuột lên nút xanh ở chữ số, chọn Reset Text Position. Làm được cho cả loạt kích thước cùng lúc.
Đặt tỷ lệ cho kích thước rồi mà ghi chú có đường dẫn vẫn bé?
Ghi chú dạng multileader không nghe theo biến tỷ lệ của kích thước. Chúng dùng biến riêng tên MLEADERSCALE, phải đặt thêm một lần nữa.
Nên dùng Use overall scale of hay ô Annotative?
Cả tờ in một tỷ lệ thì khai con số, vừa đơn giản vừa dễ kiểm. Một tờ có nhiều tỷ lệ thì dùng Annotative để khỏi dựng nhiều kiểu.