Layer trong CAD là lớp, và lớp là chỗ chứa thông tin của bản vẽ. Một nét nằm trên layer tên 01-TUONG thì người đọc hiểu ngay đó là tường, dù bản thân nét vẽ không mang thông tin gì.
Layer còn giữ ba thuộc tính hiển thị: màu, kiểu đường và bề dày nét. Gán ba thứ ấy cho layer thay vì cho từng nét là cách duy nhất giữ bản vẽ nhất quán khi hồ sơ lên tới hàng trăm tờ. Muốn học trọn khâu dựng hình và triển khai hồ sơ thì xem khóa AutoCAD Xây Dựng.
Layer trong CAD là gì và bảng Layer Properties Manager
Lệnh LAYER, gõ tắt LA, mở bảng quản lý layer. Đây là bảng thả nổi chứ không phải hộp thoại, nên để mở suốt buổi làm việc cũng được.
Chú thích các số trên hình:
| Số | Thành phần | Giải thích |
|---|---|---|
| 1 | Bốn cột trạng thái | On, Freeze, Lock và Plot. Chúng quyết định layer có hiện, có được tính toán, có sửa được và có in ra hay không |
| 2 | Ba cột thuộc tính | Color, Linetype và Lineweight. Mọi nét trên layer thừa hưởng ba thứ này khi để chế độ ByLayer |
| 3 | Dòng đếm ở chân bảng | Ghi số layer đang hiện trên tổng số layer. Bản vẽ trong hình có 12 layer: layer 0 và mười một layer đánh số |
Dãy nút ở góc trái trên của bảng lo việc tạo, xóa và chọn layer.
| Tên nút | Phím tắt | Việc |
|---|---|---|
Layer States Manager | Alt+S | Lưu toàn bộ thiết lập layer thành một trạng thái có tên |
New Layer | Alt+N | Tạo layer mới, thừa hưởng thuộc tính của layer đang chọn |
Delete Layer | Alt+D | Chỉ xóa được layer không ai dùng |
Set Current | Alt+C | Đặt layer đang chọn làm layer hiện hành, tức đổi biến CLAYER |
Trang LAYER của Autodesk mô tả lệnh này.
Tạo layer trong CAD và bảng layer chuẩn trong CAD cho bản vẽ nhà
Bấm New Layer là có ngay một layer tên LAYER1, tên đang bôi sẵn để gõ đè lên. Layer mới thừa hưởng thuộc tính của layer đang chọn, nên chọn sẵn một layer gần giống rồi hãy bấm.
Không có tiêu chuẩn bắt buộc nào về tên layer trong hồ sơ Việt Nam. Nhưng bốn nguyên tắc dưới đây thì văn phòng nào làm lâu cũng rút ra được.
| Nguyên tắc | Lý do |
|---|---|
| Đánh số ở đầu tên | Hai chữ số dẫn đầu giữ cho danh sách xếp theo thứ tự công việc chứ không theo bảng chữ cái |
| Không dấu tiếng Việt | Tên có dấu vẫn chạy được, nhưng gây lỗi khi mở trên máy khác hoặc khi xuất sang phần mềm khác |
| Dùng dấu gạch nối | Dễ đọc hơn dấu gạch dưới và không lẫn với dấu cách |
| Một layer một loại việc | Đừng gộp tường với cửa vào một layer. Tách ra thì tắt bật và đổi nét mới làm được |
Bộ layer ở ảnh đầu bài dựng theo đúng bốn nguyên tắc ấy. Bề dày nét theo thang quen thuộc của bản vẽ xây dựng, nét cắt đậm nhất và nét kích thước mảnh nhất, tỷ lệ giữa hai đầu khoảng bốn lần.
Bốn cột trạng thái, layer 0 và layer Defpoints
Bốn cột đầu bảng nhìn giống nhau nhưng làm bốn việc khác hẳn.
| Cột | Nghĩa |
|---|---|
On | Tắt thì layer biến mất khỏi màn hình nhưng vẫn được tính khi tái tạo bản vẽ |
Freeze | Đóng băng. Layer biến mất và cũng không được tính khi tái tạo. Bản vẽ nặng thì đóng băng nhanh hơn tắt |
Lock | Khóa. Layer vẫn hiện nhưng mờ đi và lệnh sửa không đụng tới được |
Plot | Cho in hay không. Layer vẫn hiện trên màn hình nhưng không ra giấy |
Hai layer đặc biệt cần biết trước khi làm gì khác.
Layer 0 là layer gốc, không xóa và không đổi tên được. Đừng vẽ hồ sơ lên đó. Layer này để dành cho việc dựng khối, vì cấu kiện vẽ trên layer 0 sẽ nhận màu và nét của layer mà khối được chèn vào.
Layer Defpoints do phần mềm tự tạo ra lần đầu bản vẽ có một kích thước, để cất những điểm định vị của đường kích thước. Nó sinh ra với cột Plot tắt sẵn, nên không bao giờ ra giấy.
Khác nhau giữa hai biểu tượng máy in ấy đáng để ý. Dấu tròn đỏ là do người vẽ tự tắt, bấm lại là bật lên được. Xám mờ nghĩa là ô ấy khóa cứng: đặt layer Defpoints thành có in thì phần mềm nhận lệnh mà không đổi gì.
Nhiều người mượn Defpoints làm layer ghi chú nội bộ vì nó không in. Cách ấy không sạch. Tự tạo một layer riêng rồi tắt cột Plot thì rõ ràng hơn.
Cột Transparency nhận số từ 0 tới 90. Mặt bằng có mảng tô sàn đè lên nét tường thì đặt layer tô độ trong chừng 60 tới 80 là đọc lại được nét bên dưới mà vẫn thấy vật liệu.
Khóa layer: mờ đi không có nghĩa là đã khóa
Chữ khóa dễ làm người đọc tưởng layer bị đông cứng hoàn toàn. Không hẳn thế, và sự khác biệt quyết định thao tác hằng ngày.
Khóa một layer rồi gọi ERASE, quét cửa sổ trùm cả nét trên layer ấy lẫn nét trên layer khác. Phần mềm trả lời hai dòng:
1 found
1 was on a locked layer.
Đọc kỹ hai dòng ấy. Dòng đầu là lời của bước chọn, dòng sau là lời của bước lọc. Thấy 1 found rồi bấm Enter mà không đọc dòng dưới là tưởng đã xóa, trong khi bản vẽ không suy suyển gì.
Độ mờ do biến LAYLOCKFADECTL quyết định, ngầm định bằng 50. Biến nhận số nguyên từ âm chín mươi tới chín mươi. Đo độ sáng của một mảng tô đặc trên thang 255 cho bảng sau:
| Giá trị | Kết quả trên màn hình | Độ sáng |
|---|---|---|
| chưa khóa | Mốc để so | 255 |
| 0 | Không mờ chút nào | 255 |
| 20 | Nhạt đi một chút | 212 |
| 50 | Mức ngầm định | 147 |
| 90 | Mức mờ nhất cho phép | 60 |
| âm 50 | Nhớ số năm mươi nhưng tắt hiệu ứng | 255 |
Ba con số giữa không phải ngẫu nhiên. Màu nền vùng vẽ quy ra độ sáng 39, nên công thức pha là 255 × (1 − f) + 39 × f, với f là giá trị của biến chia cho một trăm.
Giá trị âm là mẹo đáng biết. Đặt LAYLOCKFADECTL bằng âm năm mươi thì layer khóa hiện đậm trở lại đúng như chưa khóa, mà biến vẫn nhớ con số năm mươi.
Và đây là chỗ quan trọng nhất của cả mục. Nét đậm trở lại không có nghĩa là layer đã mở khóa. Độ mờ chỉ là cách báo cho mắt, còn việc chặn sửa nằm ở cột Lock. Hai thứ ấy tách rời nhau, và người dùng hay tưởng chúng là một.
Tám công cụ layer nhanh, và ba lệnh dễ lẫn tên
Bảng lệnh Layers có tám nút nhỏ xếp thành hai hàng. Mỗi nút là một lệnh tên bắt đầu bằng LAY, và cả tám cùng một cách làm: chỉ vào một đối tượng thay vì gõ tên layer.
| Lệnh | Việc |
|---|---|
LAYOFF | Tắt layer của đối tượng được chỉ |
LAYISO | Giữ lại layer của đối tượng được chỉ, các layer khác bị khóa và mờ đi |
LAYFRZ | Đóng băng layer của đối tượng được chỉ |
LAYLCK | Khóa layer của đối tượng được chỉ |
LAYON | Mở lại mọi layer |
LAYUNISO | Trả về trạng thái trước khi cô lập |
LAYTHW | Rã đông mọi layer |
LAYULK | Mở khóa layer của đối tượng được chỉ |
LAYISO có một điểm hay bị hiểu nhầm. Nó không tắt các layer khác mà khóa và làm mờ chúng, nên nét vẫn hiện lờ mờ để làm mốc bắt điểm. Dòng đầu của lệnh nói rõ điều ấy bằng chữ Current setting: Lock layers, Fade=50. Gõ S vào Settings thì đổi được sang tắt hẳn hoặc đóng băng theo khung nhìn. Xem trang LAYISO.
Lệnh trả lại là LAYUNISO, và nó không phải một chồng hoàn tác. Gọi lần đầu thì mọi layer về như cũ. Gọi thêm lần nữa ngay sau đó, phần mềm trả lời No layers to restore from LAYISO command, đúng câu nó in ra khi chưa hề cô lập lần nào. Muốn cô lập nhiều layer cùng lúc thì chỉ vào đối tượng của cả mấy layer ấy trong một lần gọi.
Ba lệnh sau nghe gần giống nhau và là bộ hay gọi nhầm nhất.
| Lệnh | Layer đích lấy ở đâu | Cái gì thay đổi |
|---|---|---|
LAYMCH | Một đối tượng đích, chỉ bằng chuột | Đối tượng được chọn đổi layer |
LAYCUR | Chính layer hiện hành, không hỏi gì thêm | Đối tượng được chọn đổi layer |
LAYMCUR | Một đối tượng đích, chỉ bằng chuột | Layer hiện hành đổi; không nét nào bị động tới |
Phần mềm tự phân biệt giúp mình ở dòng báo cuối. LAYMCH kết thúc bằng 3 objects changed to layer "03-CUA", còn LAYCUR thêm cụm (the current layer). Nhìn dòng cuối là biết vừa gọi lệnh nào.
LAYMCUR có một nếp lạ mà đáng biết. Nó nhận cả đối tượng nằm trên layer đang khóa, và không cảnh báo một chữ nào. Vẽ tiếp thì vẫn vẽ được, nét mới nằm đúng trên layer khóa ấy. Nhưng xóa lại chính nét vừa vẽ thì không được, vì lệnh sửa vẫn bị cột Lock chặn.
Xóa layer trong CAD và xóa layer không dùng trong CAD
Đây là việc nhiều người tìm nhất quanh chủ đề layer, và cũng là chỗ dễ mất dữ liệu nhất.
Nút Delete Layer trong bảng layer chỉ xóa được layer rỗng. Layer còn chứa nét thì nó từ chối, nên bấm nhầm cũng không mất gì. Lệnh LAYDEL thì khác hẳn: Autodesk mô tả lệnh này là "Deletes all objects on a layer and purges the layer", tức xóa mọi đối tượng trên layer rồi xóa luôn layer. Trang LAYDEL còn cho biết lệnh sửa cả định nghĩa khối nào đang dùng layer ấy.
Hai chi tiết trong hình đáng dừng lại. Thứ nhất, hộp bên trái chọn sẵn dòng đầu danh sách, không phải layer bạn định xóa; bấm OK theo quán tính là mất cả layer trục lẫn mọi nét trên đó. Thứ hai, hộp xác nhận ghi thẳng rằng mọi đối tượng trên layer hoặc tham chiếu tới layer cũng bị xóa.
Cách dùng an toàn là chỉ thẳng vào một nét trên bản vẽ thay vì mở hộp. Khi ấy lệnh hỏi bằng dòng nhắc, rồi in một lời cảnh báo có sẵn chữ WARNING trước khi hỏi Do you wish to continue? [Yes/No] <No>. Trị ngầm định là No, nên bấm Enter cho nhanh là hủy chứ không phải xóa.
Muốn dọn hàng loạt thì dùng PURGE, gõ tắt PU, chọn mục Layers rồi Purge All. Lệnh này chỉ gỡ những layer không ai dùng, nên an toàn hơn LAYDEL rất nhiều. Bản dòng lệnh là -PURGE, tiện khi viết vào tệp kịch bản. Xem trang PURGE.
Gộp layer trong CAD, trạng thái layer và LAYWALK
Bản vẽ nhận từ nơi khác thường có mấy layer cùng một công dụng, tên khác nhau. Gộp chúng lại bằng LAYMRG. Autodesk mô tả: "Objects on merged layers are moved to the target layer, and the original layers are purged from the drawing" — nét được chuyển sang layer đích, còn layer cũ bị gỡ khỏi bản vẽ. Xem trang LAYMRG.
Lệnh hỏi hai lượt, layer cần gộp rồi layer đích. Cả hai đều có lựa chọn Name mở hộp thoại, và hộp ấy cũng chọn sẵn dòng đầu y như hộp của LAYDEL.
Vẽ mặt bằng thì tắt layer trần. Vẽ trần thì tắt thiết bị vệ sinh và bật layer đèn. Mỗi lần đổi việc lại bật tắt hàng chục layer, và làm bằng tay thì thế nào cũng sót. Lệnh LAYERSTATE giải quyết chuyện đó.
Chú thích các số trên hình:
| Số | Thành phần | Giải thích |
|---|---|---|
| 1 | Danh sách Layer states | Mỗi dòng một trạng thái đã lưu, kèm không gian lưu và cột cho biết trạng thái có còn trùng bản vẽ hay không |
| 2 | Cột nút bên phải | New tạo trạng thái từ bộ layer hiện tại, Update ghi đè, Edit và Rename sửa, Delete xóa. Import và Export trao đổi với bản vẽ khác |
| 3 | Khối Restore options | Ô Turn off layers not found in layer state đang tích: layer thêm vào sau khi lưu sẽ bị tắt khi khôi phục |
| 4 | Dòng Current layer state | Chưa khôi phục trạng thái nào thì ghi *UNSAVED*. Chọn một tên rồi bấm Restore là mọi layer về đúng trạng thái đó |
Lệnh này không có bản dòng lệnh. Gõ -LAYERSTATE thì phần mềm trả lời Unknown command. Muốn lưu trạng thái từ chương trình thì phải gọi hàm AutoLISP.
Bản vẽ lạ có vài chục layer không rõ chứa gì thì gõ LAYWALK. Hộp liệt kê mọi layer, bấm từng tên là thấy layer ấy chứa gì, và ô Restore on exit tích sẵn nên đóng hộp là mọi thứ về như cũ.
Câu hỏi thường gặp
Lệnh mở bảng layer trong CAD là lệnh gì?
Lệnh LAYER, gõ tắt LA. Bảng mở ra là bảng thả nổi nên để mở suốt buổi làm việc cũng được.
Vì sao không xóa được layer?
Năm trường hợp hay gặp: layer 0, layer Defpoints, layer đang hiện hành, layer còn chứa nét vẽ, và layer đến từ bản vẽ tham chiếu. Ba trường hợp sau xử lý được, hai trường hợp đầu thì không.
Xóa layer không dùng trong CAD bằng lệnh gì?
Gõ PURGE, chọn mục Layers rồi Purge All. Lệnh chỉ gỡ layer không ai dùng nên an toàn. Bản dòng lệnh là -PURGE.
Khác nhau giữa nút Delete Layer và lệnh LAYDEL là gì?
Nút chỉ xóa được layer rỗng, layer còn nét thì nó từ chối. LAYDEL xóa cả nét lẫn layer, nên bấm nhầm là mất hẳn một phần bản vẽ.
Layer khóa rồi mà nét vẫn đậm, có phải đã mở khóa không?
Không. Độ mờ do biến LAYLOCKFADECTL quyết định, đặt giá trị âm là tắt hiệu ứng mờ mà layer vẫn khóa. Việc chặn sửa nằm ở cột Lock, không nằm ở độ mờ.
Gộp hai layer làm một bằng cách nào?
Gõ LAYMRG, chỉ vào nét trên layer cần gộp, rồi chỉ vào nét trên layer đích. Nét chuyển sang layer đích và layer cũ bị gỡ khỏi bản vẽ.
Bài viết liên quan
- Nhập tọa độ trong CAD — bốn cách gõ, bẫy dấu phẩy và dấu thăng
- Bắt điểm trong CAD — mười ba kiểu bắt điểm và cách phối với việc gõ tọa độ
- Vẽ hình chữ nhật trong CAD — lệnh REC, tám lựa chọn và bẫy thiết lập có nhớ
- AutoCAD là gì — cẩm nang cho người làm xây dựng, ba bản và cách học