Câu hiểu nhầm lớn nhất về đơn vị trong CAD nằm ngay ở chữ đơn vị. Nhiều người tưởng đổi đơn vị là đổi kích thước hình, nên không dám đụng vào, hoặc đụng vào rồi hoảng khi con số nhảy lung tung.
Sự thật đo được rất gọn: lệnh UNITS chỉ đổi cách hiện con số, còn hình thì không nhúc nhích một phần nghìn. Bài này chứng minh bằng số đo trên AutoCAD 2027 tại Viện. Muốn học trọn cách thiết lập môi trường bản vẽ thì xem khóa AutoCAD Xây Dựng.
Một nét, năm con số
Chúng tôi vẽ năm nét thẳng giống hệt nhau, mỗi nét dài đúng 1234,5678 đơn vị bản vẽ, rồi ghi kích thước từng nét bằng một cách hiện đơn vị khác nhau.
| Cách hiện | Biến đặt | Con số hiện ra |
|---|---|---|
| Thập phân, không lẻ | LUNITS 2, LUPREC 0 | 1235 |
| Thập phân, hai chữ số lẻ | LUNITS 2, LUPREC 2 | 1234.57 |
| Thập phân, bốn chữ số lẻ | LUNITS 2, LUPREC 4 | 1234.5678 |
| Kiến trúc, hệ Anh | LUNITS 4 | 102'-10 9/16" |
| Phân số | LUNITS 5 | 1234 9/16 |
Năm con số, năm cách viết, và cùng một nét. Chúng tôi đọc chiều dài thật từ toạ độ hai đầu sau mỗi lần đổi biến, và kết quả luôn là 1234,567800 không sai một chữ số.
Đó là toàn bộ câu chuyện. Đổi đơn vị không đụng tới hình.
Đổi đơn vị trong CAD không làm bản vẽ sai tỉ lệ
Chỗ này đáng nhắc lại vì nó cứu được nhiều buổi làm lại.
Bản vẽ của bạn vẽ theo milimét, một bức tường 3600. Đổi sang mét thì bức tường ấy vẫn là 3600 đơn vị bản vẽ, không phải 3,6. AutoCAD không biết một đơn vị bản vẽ của bạn là milimét hay mét hay dặm; nó chỉ đếm đơn vị.
Nghĩa là muốn đổi bản vẽ từ milimét sang mét thật sự thì phải dùng lệnh SCALE với hệ số 0,001, chứ lệnh UNITS không làm việc ấy. Cách dùng lệnh phóng tỉ lệ nằm ở bài lệnh zoom trong CAD.
Trang UNITS của Autodesk nói đúng điều ấy trong một câu: "Controls the precision and display formats for coordinates, distances, and angles." Chỉ là độ chính xác và định dạng hiển thị, không có chữ nào về kích thước.
Cài đặt đơn vị trong CAD: năm biến cần biết
Hộp thoại UNITS trông đơn giản nhưng đằng sau là năm biến hệ thống. Biết tên chúng thì đặt được bằng một dòng lệnh, và quan trọng hơn là đặt được trong tệp mẫu.
| Biến | Việc nó quyết định | Giá trị hay dùng ở Việt Nam |
|---|---|---|
LUNITS | kiểu hiện chiều dài | 2, tức thập phân |
LUPREC | số chữ số lẻ của chiều dài | 0 hoặc 1 với bản vẽ theo milimét |
AUNITS | kiểu hiện góc | 0, tức độ thập phân |
AUPREC | số chữ số lẻ của góc | 0 hoặc 2 |
INSUNITS | đơn vị mà bản vẽ tự khai | 4, tức milimét |
Bản vẽ mẫu chúng tôi đo có LUNITS bằng 2, LUPREC bằng 1 và INSUNITS bằng 0. Giá trị 0 của INSUNITS nghĩa là bản vẽ không khai đơn vị, và đó là trạng thái nên sửa trong tệp mẫu của mỗi đơn vị thiết kế.
Bản vẽ nhận về không biết vẽ theo đơn vị gì thì đo thế nào
Tình huống rất hay gặp: khách gửi một tệp, mở ra thấy con số nhưng không biết đơn vị. Có ba cách đọc ra trong vài giây.
Cách thứ nhất, đo một thứ đã biết. Gõ DIST rồi bắt hai đầu của một cánh cửa thông thường. Ra khoảng 800 thì bản vẽ theo milimét, ra 0,8 thì theo mét, ra khoảng 31 thì theo inch.
Cách thứ hai, đọc biến. Gõ INSUNITS rồi Enter. Giá trị 4 là milimét, 6 là mét, 1 là inch, 0 là bản vẽ không khai gì cả. Tiếc là rất nhiều tệp để 0, nên cách này chỉ dùng được khi người vẽ trước có đặt.
Cách thứ ba, nhìn khung tên. Tỉ lệ ghi 1:100 trên khổ A3 gần như chắc chắn là bản vẽ theo milimét, vì đó là quy ước hồ sơ xây dựng ở ta.
Biết đơn vị rồi mới quyết được có phải nhân tỉ lệ khi chèn vào hồ sơ của mình hay không. Nhân nhầm một nghìn lần là chuyện xảy ra hằng tuần ở các đơn vị thiết kế.
Đơn vị đo góc: cùng 30 độ, năm cách đọc
Phần góc còn dễ gây nhầm hơn phần chiều dài, nhất là khi làm hồ sơ hạ tầng.
Chúng tôi vẽ một nét nghiêng đúng 30 độ rồi đọc lại góc ấy qua từng giá trị của AUNITS:
AUNITS | Kiểu | Hiện ra |
|---|---|---|
| 0 | độ thập phân | 30.0000 |
| 1 | độ, phút, giây | 30d0'0" |
| 2 | grad | 33.3333g |
| 3 | radian | 0.5236r |
| 4 | phương vị trắc địa | N 60d0'0" E |
Dòng cuối là chỗ gây nhầm nhiều nhất. Cùng một nét, cùng một góc, mà hệ trắc địa đọc thành N 60d0'0" E. Lý do là hệ ấy đo từ hướng bắc chứ không đo từ trục X, nên 30 độ so với trục X thành 60 độ so với hướng bắc.
Giá trị radian ở dòng thứ tư cũng đáng ghi nhận: 0,5236 đúng bằng 30 độ đổi ra radian. Chúng tôi đọc góc thật qua hàm của AutoLISP và luôn được 0,523599 radian ở cả năm lần đo.
Thiết lập đơn vị trong CAD cho kích thước là chuyện riêng
Đây là cái bẫy làm mất thời gian nhiều nhất, và nó không hiện ra trong hộp thoại UNITS.
Đổi LUNITS thì toạ độ trên dòng lệnh đổi, ô Properties đổi, hàm đo đổi. Nhưng con số trên kích thước thì không đổi, vì kích thước dùng biến riêng tên DIMLUNIT.
Chúng tôi đo hẳn: đặt LUNITS bằng 4 rồi chạy REGENALL, con số trên kích thước vẫn giữ nguyên định dạng thập phân cho tới khi đặt thêm DIMLUNIT bằng 4.
| Đổi biến nào | Toạ độ trên dòng lệnh | Chữ trên kích thước |
|---|---|---|
LUNITS | đổi theo | không đổi |
DIMLUNIT | không đổi | đổi theo |
Nhớ được cặp này thì hết cảnh đổi đơn vị xong ngồi thắc mắc vì sao bản vẽ không nhúc nhích. Cách quản lý kích thước đầy đủ nằm ở bài dim trong CAD.
Đặt bao nhiêu chữ số lẻ là vừa
Câu trả lời ngắn cho bản vẽ xây dựng theo milimét: LUPREC bằng 0, và DIMDEC cũng bằng 0.
Lý do là milimét đã đủ nhỏ. Một bức tường ghi 3600 thì rõ ràng hơn ghi 3600.00, và con số ngắn thì chuỗi kích thước bớt chen chúc. Bản vẽ theo mét thì ngược lại, phải để hai chữ số lẻ, vì 3,6 mét và 3,65 mét khác nhau hẳn.
Có một trường hợp nên để nhiều chữ số lẻ dù vẽ theo milimét: lúc kiểm bản vẽ. Đặt tạm LUPREC bằng 4 rồi đo vài nét, bạn sẽ thấy ngay những nét lệch 0,0001 mà mắt không bắt được. Kiểm xong thì đặt về 0.
Đặt một lần trong tệp mẫu, khỏi đặt lại mãi
Mọi thứ trong bài này đều lưu theo từng bản vẽ, không phải theo máy. Mở một tệp mới là lại về giá trị mặc định của tệp mẫu.
Vì thế chỗ đáng đặt không phải là bản vẽ đang làm, mà là tệp mẫu .dwt của đơn vị. Đặt đủ năm biến ở trên, lưu lại một lần, và từ đó mọi bản vẽ mới đều đúng.
Một danh sách gọn để kiểm tệp mẫu, làm theo thứ tự.
UNITSđặt thập phân, số chữ số lẻ theo thói quen của đơn vị.INSUNITSđặt 4 nếu vẽ theo milimét.DIMLUNITvàDIMDECđặt cho khớp, rồi lưu vào kiểu kích thước chứ đừng để ở biến.- Lưu tệp bằng
SAVEASchọn kiểu Drawing Template.
Bước thứ ba đáng nhấn mạnh. Đặt biến DIMLUNIT thì chỉ có tác dụng cho tới khi đóng bản vẽ; đặt vào kiểu kích thước thì đi theo hồ sơ.
Ba điều hay nghe nhưng không đúng
| Điều hay nghe | Thực tế đo trên bản 2027 |
|---|---|
| Đổi đơn vị là đổi kích thước hình | Chiều dài thật luôn là 1234,567800 qua cả năm cách hiện |
Đổi UNITS thì kích thước đổi theo | Kích thước theo DIMLUNIT, một biến hoàn toàn riêng |
| Bản vẽ milimét thì phải đặt đơn vị là milimét | AutoCAD không có ô nào để khai milimét; nó chỉ đếm đơn vị |
Câu hỏi thường gặp
Chỉnh đơn vị trong CAD ở đâu?
Gõ UNITS rồi Enter, hộp thoại Drawing Units mở ra. Hoặc đặt thẳng bằng biến: LUNITS, LUPREC, AUNITS, AUPREC.
Đổi đơn vị xong sao bản vẽ vẫn y như cũ?
Vì lệnh ấy chỉ đổi cách hiện con số. Muốn đổi kích thước thật thì dùng SCALE, ví dụ nhân 0,001 để chuyển milimét sang mét.
Vì sao đổi đơn vị mà chữ trên kích thước không đổi?
Vì kích thước dùng biến riêng. Đặt thêm DIMLUNIT cho khớp với LUNITS, rồi chạy REGENALL.
Đơn vị đo trong CAD nên đặt mấy chữ số lẻ?
Bản vẽ theo milimét thì 0 là đủ. Bản vẽ theo mét thì 2. Lúc kiểm bản vẽ thì tạm đặt 4 để bắt những nét lệch rất nhỏ.
Biến INSUNITS bằng 0 có sao không?
Bản vẽ không khai đơn vị thì khi chèn khối từ tệp khác, AutoCAD không có căn cứ để quy đổi. Đặt INSUNITS bằng 4 cho bản vẽ theo milimét và lưu vào tệp mẫu là gọn nhất.