BIM

Lệnh ZOOM trong CAD: phóng to thu nhỏ, và ba việc hay bị nhầm với nhau

Lệnh zoom trong CAD phóng to thu nhỏ khung nhìn. Bài này tách rõ ZOOM với SCALE và DIMSCALE, giải thích chữ X, hệ số XP và cách sửa khi mất bản vẽ.

  • PGS.TS. Trần Anh Bình
  • 10 phút đọc
Ba việc khác nhau cùng được gọi là phóng to thu nhỏ, và ba lệnh khác nhau để làm chúng Ảnh: Sơ đồ của Viện Tin học Xây dựng

Lệnh ZOOM trong CAD đổi chỗ đứng nhìn chứ không đổi bản vẽ. Đây là thao tác làm nhiều nhất trong ngày, nhiều tới mức nên làm bằng chuột chứ đừng gọi tên lệnh.

Nhưng trước khi đi vào ZOOM, có một chuyện phải nói rõ. Ba việc rất khác nhau ở CAD cùng được gọi là "phóng to thu nhỏ", và gõ nhầm thì làm hỏng bản vẽ chứ không chỉ mất công. Bài này tách ba việc đó ra, rồi mới đi sâu vào ZOOM. Muốn học trọn khâu dựng hình và triển khai hồ sơ thì xem khóa AutoCAD Xây Dựng.

Ba việc cùng gọi là phóng to thu nhỏ

Bạn muốnLệnh đúngBản vẽ có đổi không
Nhìn cho rõ hơnZOOMKhông. Chỉ đổi chỗ đứng nhìn
Làm hình nhỏ đi hoặc to lên thậtSCALECó. Đo lại là ra số khác
Chữ số kích thước quá bé trên giấyBiến DIMSCALEKhông đổi hình, chỉ đổi cỡ chữ số

Chỗ hay nhầm nhất là hàng giữa. Người cần thu nhỏ một đối tượng mà đi dùng ZOOM thì nhìn thấy nó nhỏ đi trên màn hình, nhưng đo ra vẫn nguyên số cũ — vì ZOOM không đụng tới hình.

Hàng cuối cũng vậy: hình đúng cỡ mà chữ số dim nhỏ li ti khi in thì đó là việc của DIMSCALE, một hệ số nhân cỡ chữ và cỡ mũi tên của kiểu kích thước. Autodesk mô tả ở trang About Setting the Scale for Dimensions.

Phần còn lại của bài nói về ZOOM.

Làm bằng chuột trước, gõ lệnh sau

Thao tác khung nhìn nên làm bằng chuột. Học thuộc bốn dòng này là đủ cho phần lớn công việc.

Thao tácKết quả
Lăn con lănPhóng to thu nhỏ quanh vị trí con trỏ. Đưa con trỏ tới chỗ cần xem rồi mới lăn, khỏi phải trượt lại
Giữ con lăn và kéoTrượt khung nhìn. Đây chính là lệnh PAN, gọi bằng chuột nhanh hơn gõ tên
Bấm đúp con lănThu cả bản vẽ vừa màn hình, tương đương Zoom Extents
Z rồi ECũng là Zoom Extents. Hai chữ đáng học thuộc, dùng mỗi khi lạc mất bản vẽ

Con lăn kéo được như vậy là nhờ biến MBUTTONPAN bằng 1. Còn lăn một nấc phóng bao nhiêu thì do biến ZOOMFACTOR quyết định, ngầm định là 60. Thấy con lăn nhảy quá mạnh thì hạ xuống khoảng 20 tới 30, thao tác mượt hơn hẳn. Chi tiết ở trang ZOOMFACTOR (System Variable).

Nếu thấy màn hình trôi mượt một nhịp mỗi lần zoom và bạn muốn bỏ nhịp ấy cho nhanh tay, đó là hiệu ứng chuyển cảnh do biến VTENABLE điều khiển. Biến này ngầm định bằng 3 và nhận giá trị từ 0 tới 7, cộng từ ba bit: 1 cho pan và zoom, 2 cho đổi góc nhìn, 4 cho tệp kịch bản.

ĐặtKết quả
2Tắt hiệu ứng khi zoom và pan, vẫn giữ hiệu ứng khi đổi góc nhìn
0Tắt hết mọi hiệu ứng chuyển cảnh
3Giá trị ngầm định, bật cho cả hai

Đặt 2 thường là lựa chọn đúng: thao tác zoom dứt khoát ngay, mà xoay hình ba chiều vẫn mượt. Trang VTENABLE (System Variable) liệt kê đủ tám giá trị.

Tám lựa chọn của lệnh ZOOM

ZOOM, hoặc lệnh tắt Z, rồi Enter. Dòng nhắc in ra hai dòng và chứa đủ mọi lựa chọn.

Specify corner of window, enter a scale factor (nX or nXP), or [All/Center/Dynamic/Extents/Previous/Scale/Window/Object] <real time>:

Ngầm định trong ngoặc nhọn là real time: nhấn Enter ngay là vào chế độ kéo chuột để phóng. Giữ chuột trái kéo lên là phóng to, kéo xuống là thu nhỏ, Esc để thoát.

Bốn lựa chọn ZOOM hay dùng Ảnh: Window quét khung, Extents cho mọi nét vừa khít, Previous về khung trước, Scale 2X phóng gấp đôi quanh giữa màn hình
Lựa chọnViệc
AAllHiện cả phạm vi khai bằng LIMITS lẫn mọi nét vẽ
CCenterHỏi tâm rồi hỏi chiều cao khung nhìn
DDynamicKéo một khung trên toàn bản vẽ để chọn chỗ xem. Có từ trước khi có con lăn, nay hầu như không dùng
EExtentsMọi nét vẽ vừa khít màn hình. Lựa chọn dùng nhiều nhất
PPreviousLùi về khung nhìn trước. Nhớ được 20 khung
SScaleHỏi hệ số. Đọc kỹ mục dưới trước khi dùng
WWindowQuét khung bằng hai góc
OObjectChọn đối tượng, đối tượng ấy lấp đầy màn hình
Zoom Center và Zoom Scale Ảnh: Trái: Zoom Center với tâm chỉ định và chiều cao khung nhìn 9000. Phải: Zoom Scale 0.5X, mặt bằng còn một nửa khung cũ

Cả tám lựa chọn còn nằm trong menu xổ của nút Zoom trên thanh điều hướng bên phải vùng vẽ.

Menu Zoom trên thanh điều hướng Ảnh: Menu xổ của nút Zoom với đủ tám lựa chọn của lệnh, kèm Zoom Realtime, Zoom In và Zoom Out

Chữ X sau con số: chỗ nhầm làm mất bản vẽ

Đây là chỗ khiến nhiều người gõ Zoom Scale xong thì màn hình trắng trơn, tưởng mất bản vẽ.

Có chữ X thì con số so với khung đang nhìn. Gõ 2x luôn là phóng gấp đôi so với hiện tại, bấm bao nhiêu lần cũng vậy. Gõ 0.5x là thu còn nửa khung hiện tại.

Không có chữ X thì con số so với phạm vi LIMITS. Trên bản vẽ nhà, LIMITS thường chẳng ăn nhập gì với mặt bằng, nên kết quả nhảy đi đâu không đoán được.

Con số cụ thể cho thấy mức độ: trên một bản vẽ có LIMITS khai 420 nhân 297, gõ 2 trần cho khung nhìn cao 148 đơn vị — nhỏ hơn một viên gạch. Mặt bằng dài 21600 khi ấy nằm ngoài màn hình hoàn toàn.

Quy tắc an toàn: luôn gõ kèm chữ X, trừ khi bạn biết chắc LIMITS của bản vẽ là bao nhiêu.

Muốn tự kiểm thì dùng biến VIEWSIZE, nó giữ chiều cao khung nhìn tính bằng đơn vị bản vẽ. Đọc nó trước và sau mỗi lệnh là biết lệnh vừa làm gì:

  1. VIEWSIZE rồi Enter, ghi con số ra giấy.
  2. Z rồi Enter, gõ 1x rồi Enter. Đọc lại VIEWSIZE: không đổi một ly. Hệ số 1x nghĩa là giữ nguyên.
  3. Z rồi Enter, gõ 2x rồi Enter. VIEWSIZE còn đúng một nửa. Khung nhìn cao bằng nửa, tức hình to gấp đôi.
  4. Z rồi E. Cả bản vẽ vừa khít màn hình, VIEWSIZE nhảy lên bằng chiều cao thật của bản vẽ.

Bước 2 là phép thử đáng làm: nếu con số đổi, bạn đang hiểu sai chữ X.

Hệ số XP: đặt tỷ lệ khung nhìn trong Layout

Còn một hệ số nữa, và nó chỉ dùng trong Layout. Chữ XP nghĩa là so với không gian giấy, không phải so với khung đang nhìn.

Trình tự đặt tỷ lệ cho một khung nhìn:

  1. MSPACE để chui vào viewport.
  2. ZOOM rồi Enter.
  3. 1/100XP rồi Enter. Khung nhìn ấy nay ở tỷ lệ 1:100.

Đây là cách cũ nhưng vẫn chạy, và nó cho thấy tỷ lệ viewport thật ra chỉ là một con số. Hai cách khác hiện đại hơn: chọn viewport từ mặt giấy rồi đọc ô Viewport Scale trên thanh trạng thái, hoặc mở bảng Properties và đặt ô Standard scale. Cách dùng Properties chắc chắn nhất vì đọc lại được con số.

Lệnh PAN và bản có dấu trừ

Trượt khung nhìn bằng cách giữ con lăn và kéo là đủ cho hầu hết công việc. Nhưng lệnh PANhai bản dùng vào hai việc khác nhau.

PAN rồi Enter: con trỏ thành hình bàn tay, giữ chuột trái kéo đi rồi thả, Esc để thoát. Đây là bản dùng mắt, không có con số nào.

-PAN, chú ý dấu trừ đứng trước: lần này không có bàn tay, phần mềm hỏi điểm gốc rồi điểm thứ hai. Gõ 0,0 rồi 3600,0 là khung nhìn trượt đúng một bước cột, không hơn không kém.

Bản có dấu trừ là bản duy nhất viết được vào tệp kịch bản, vì kịch bản không kéo chuột được.

Lăn mãi mà hình không nhỏ thêm

Lăn con lăn mãi mà hình không nhỏ thêm nghĩa là đã chạm giới hạn thu nhỏ của khung nhìn hiện tại. Gõ Z rồi E để nhảy về đúng phạm vi bản vẽ.

Nếu gõ Z rồi E mà vẫn không thấy gì, hoặc thấy bản vẽ bé tí ở một góc, thì trong bản vẽ có một đối tượng nằm rất xa gốc toạ độ. Thường là do dán nhầm từ bản vẽ khác. Zoom Extents phải ôm cả đối tượng lạc ấy nên mặt bằng thật bị ép nhỏ lại.

Cách tìm: gõ Z rồi E để thấy toàn cảnh, rồi quét chọn vùng xa để xem có gì ở đó. Xoá đối tượng lạc rồi gõ lại Z E là bản vẽ trở về bình thường.

Câu hỏi thường gặp

Lệnh zoom trong CAD gõ tắt là gì?

Z rồi Enter. Sau đó gõ tiếp chữ cái của lựa chọn, ví dụ E cho Extents hay W cho Window.

Làm sao thu nhỏ một đối tượng trong CAD?

Đó không phải việc của ZOOM mà của lệnh SCALE. ZOOM chỉ đổi chỗ đứng nhìn, đo lại đối tượng vẫn ra số cũ.

Vì sao gõ Zoom Scale xong thì mất bản vẽ?

Vì gõ số trần không có chữ X. Số trần so với phạm vi LIMITS, thường chẳng ăn nhập gì với mặt bằng. Luôn gõ kèm chữ X.

Con lăn chuột nhảy quá mạnh, chỉnh ở đâu?

ZOOMFACTOR rồi đặt giá trị khoảng 20 tới 30 thay cho 60 ngầm định.

Zoom Extents rồi mà bản vẽ vẫn bé tí ở một góc?

Trong bản vẽ có đối tượng nằm rất xa gốc toạ độ, thường do dán nhầm. Tìm và xoá nó đi rồi gõ lại Z E.

Bài viết liên quan

Về tác giả

PGS.TS. Trần Anh Bình — Viện trưởng Viện Tin học Xây dựng – Trường Đại học Xây dựng Hà Nội