Lệnh ZOOM trong CAD đổi chỗ đứng nhìn chứ không đổi bản vẽ. Đây là thao tác làm nhiều nhất trong ngày, nhiều tới mức nên làm bằng chuột chứ đừng gọi tên lệnh.
Nhưng trước khi đi vào ZOOM, có một chuyện phải nói rõ. Ba việc rất khác nhau ở CAD cùng được gọi là "phóng to thu nhỏ", và gõ nhầm thì làm hỏng bản vẽ chứ không chỉ mất công. Bài này tách ba việc đó ra, rồi mới đi sâu vào ZOOM. Muốn học trọn khâu dựng hình và triển khai hồ sơ thì xem khóa AutoCAD Xây Dựng.
Ba việc cùng gọi là phóng to thu nhỏ
| Bạn muốn | Lệnh đúng | Bản vẽ có đổi không |
|---|---|---|
| Nhìn cho rõ hơn | ZOOM | Không. Chỉ đổi chỗ đứng nhìn |
| Làm hình nhỏ đi hoặc to lên thật | SCALE | Có. Đo lại là ra số khác |
| Chữ số kích thước quá bé trên giấy | Biến DIMSCALE | Không đổi hình, chỉ đổi cỡ chữ số |
Chỗ hay nhầm nhất là hàng giữa. Người cần thu nhỏ một đối tượng mà đi dùng ZOOM thì nhìn thấy nó nhỏ đi trên màn hình, nhưng đo ra vẫn nguyên số cũ — vì ZOOM không đụng tới hình.
Hàng cuối cũng vậy: hình đúng cỡ mà chữ số dim nhỏ li ti khi in thì đó là việc của DIMSCALE, một hệ số nhân cỡ chữ và cỡ mũi tên của kiểu kích thước. Autodesk mô tả ở trang About Setting the Scale for Dimensions.
Phần còn lại của bài nói về ZOOM.
Làm bằng chuột trước, gõ lệnh sau
Thao tác khung nhìn nên làm bằng chuột. Học thuộc bốn dòng này là đủ cho phần lớn công việc.
| Thao tác | Kết quả |
|---|---|
| Lăn con lăn | Phóng to thu nhỏ quanh vị trí con trỏ. Đưa con trỏ tới chỗ cần xem rồi mới lăn, khỏi phải trượt lại |
| Giữ con lăn và kéo | Trượt khung nhìn. Đây chính là lệnh PAN, gọi bằng chuột nhanh hơn gõ tên |
| Bấm đúp con lăn | Thu cả bản vẽ vừa màn hình, tương đương Zoom Extents |
Gõ Z rồi E | Cũng là Zoom Extents. Hai chữ đáng học thuộc, dùng mỗi khi lạc mất bản vẽ |
Con lăn kéo được như vậy là nhờ biến MBUTTONPAN bằng 1. Còn lăn một nấc phóng bao nhiêu thì do biến ZOOMFACTOR quyết định, ngầm định là 60. Thấy con lăn nhảy quá mạnh thì hạ xuống khoảng 20 tới 30, thao tác mượt hơn hẳn. Chi tiết ở trang ZOOMFACTOR (System Variable).
Nếu thấy màn hình trôi mượt một nhịp mỗi lần zoom và bạn muốn bỏ nhịp ấy cho nhanh tay, đó là hiệu ứng chuyển cảnh do biến VTENABLE điều khiển. Biến này ngầm định bằng 3 và nhận giá trị từ 0 tới 7, cộng từ ba bit: 1 cho pan và zoom, 2 cho đổi góc nhìn, 4 cho tệp kịch bản.
| Đặt | Kết quả |
|---|---|
2 | Tắt hiệu ứng khi zoom và pan, vẫn giữ hiệu ứng khi đổi góc nhìn |
0 | Tắt hết mọi hiệu ứng chuyển cảnh |
3 | Giá trị ngầm định, bật cho cả hai |
Đặt 2 thường là lựa chọn đúng: thao tác zoom dứt khoát ngay, mà xoay hình ba chiều vẫn mượt. Trang VTENABLE (System Variable) liệt kê đủ tám giá trị.
Tám lựa chọn của lệnh ZOOM
Gõ ZOOM, hoặc lệnh tắt Z, rồi Enter. Dòng nhắc in ra hai dòng và chứa đủ mọi lựa chọn.
Specify corner of window, enter a scale factor (nX or nXP), or [All/Center/Dynamic/Extents/Previous/Scale/Window/Object] <real time>:
Ngầm định trong ngoặc nhọn là real time: nhấn Enter ngay là vào chế độ kéo chuột để phóng. Giữ chuột trái kéo lên là phóng to, kéo xuống là thu nhỏ, Esc để thoát.
| Gõ | Lựa chọn | Việc |
|---|---|---|
A | All | Hiện cả phạm vi khai bằng LIMITS lẫn mọi nét vẽ |
C | Center | Hỏi tâm rồi hỏi chiều cao khung nhìn |
D | Dynamic | Kéo một khung trên toàn bản vẽ để chọn chỗ xem. Có từ trước khi có con lăn, nay hầu như không dùng |
E | Extents | Mọi nét vẽ vừa khít màn hình. Lựa chọn dùng nhiều nhất |
P | Previous | Lùi về khung nhìn trước. Nhớ được 20 khung |
S | Scale | Hỏi hệ số. Đọc kỹ mục dưới trước khi dùng |
W | Window | Quét khung bằng hai góc |
O | Object | Chọn đối tượng, đối tượng ấy lấp đầy màn hình |
Cả tám lựa chọn còn nằm trong menu xổ của nút Zoom trên thanh điều hướng bên phải vùng vẽ.
Chữ X sau con số: chỗ nhầm làm mất bản vẽ
Đây là chỗ khiến nhiều người gõ Zoom Scale xong thì màn hình trắng trơn, tưởng mất bản vẽ.
Có chữ X thì con số so với khung đang nhìn. Gõ 2x luôn là phóng gấp đôi so với hiện tại, bấm bao nhiêu lần cũng vậy. Gõ 0.5x là thu còn nửa khung hiện tại.
Không có chữ X thì con số so với phạm vi LIMITS. Trên bản vẽ nhà, LIMITS thường chẳng ăn nhập gì với mặt bằng, nên kết quả nhảy đi đâu không đoán được.
Con số cụ thể cho thấy mức độ: trên một bản vẽ có LIMITS khai 420 nhân 297, gõ 2 trần cho khung nhìn cao 148 đơn vị — nhỏ hơn một viên gạch. Mặt bằng dài 21600 khi ấy nằm ngoài màn hình hoàn toàn.
Quy tắc an toàn: luôn gõ kèm chữ X, trừ khi bạn biết chắc LIMITS của bản vẽ là bao nhiêu.
Muốn tự kiểm thì dùng biến VIEWSIZE, nó giữ chiều cao khung nhìn tính bằng đơn vị bản vẽ. Đọc nó trước và sau mỗi lệnh là biết lệnh vừa làm gì:
- Gõ
VIEWSIZErồi Enter, ghi con số ra giấy. - Gõ
Zrồi Enter, gõ1xrồi Enter. Đọc lạiVIEWSIZE: không đổi một ly. Hệ số1xnghĩa là giữ nguyên. - Gõ
Zrồi Enter, gõ2xrồi Enter.VIEWSIZEcòn đúng một nửa. Khung nhìn cao bằng nửa, tức hình to gấp đôi. - Gõ
ZrồiE. Cả bản vẽ vừa khít màn hình,VIEWSIZEnhảy lên bằng chiều cao thật của bản vẽ.
Bước 2 là phép thử đáng làm: nếu con số đổi, bạn đang hiểu sai chữ X.
Hệ số XP: đặt tỷ lệ khung nhìn trong Layout
Còn một hệ số nữa, và nó chỉ dùng trong Layout. Chữ XP nghĩa là so với không gian giấy, không phải so với khung đang nhìn.
Trình tự đặt tỷ lệ cho một khung nhìn:
- Gõ
MSPACEđể chui vào viewport. - Gõ
ZOOMrồi Enter. - Gõ
1/100XPrồi Enter. Khung nhìn ấy nay ở tỷ lệ 1:100.
Đây là cách cũ nhưng vẫn chạy, và nó cho thấy tỷ lệ viewport thật ra chỉ là một con số. Hai cách khác hiện đại hơn: chọn viewport từ mặt giấy rồi đọc ô Viewport Scale trên thanh trạng thái, hoặc mở bảng Properties và đặt ô Standard scale. Cách dùng Properties chắc chắn nhất vì đọc lại được con số.
Lệnh PAN và bản có dấu trừ
Trượt khung nhìn bằng cách giữ con lăn và kéo là đủ cho hầu hết công việc. Nhưng lệnh PAN có hai bản dùng vào hai việc khác nhau.
Gõ PAN rồi Enter: con trỏ thành hình bàn tay, giữ chuột trái kéo đi rồi thả, Esc để thoát. Đây là bản dùng mắt, không có con số nào.
Gõ -PAN, chú ý dấu trừ đứng trước: lần này không có bàn tay, phần mềm hỏi điểm gốc rồi điểm thứ hai. Gõ 0,0 rồi 3600,0 là khung nhìn trượt đúng một bước cột, không hơn không kém.
Bản có dấu trừ là bản duy nhất viết được vào tệp kịch bản, vì kịch bản không kéo chuột được.
Lăn mãi mà hình không nhỏ thêm
Lăn con lăn mãi mà hình không nhỏ thêm nghĩa là đã chạm giới hạn thu nhỏ của khung nhìn hiện tại. Gõ Z rồi E để nhảy về đúng phạm vi bản vẽ.
Nếu gõ Z rồi E mà vẫn không thấy gì, hoặc thấy bản vẽ bé tí ở một góc, thì trong bản vẽ có một đối tượng nằm rất xa gốc toạ độ. Thường là do dán nhầm từ bản vẽ khác. Zoom Extents phải ôm cả đối tượng lạc ấy nên mặt bằng thật bị ép nhỏ lại.
Cách tìm: gõ Z rồi E để thấy toàn cảnh, rồi quét chọn vùng xa để xem có gì ở đó. Xoá đối tượng lạc rồi gõ lại Z E là bản vẽ trở về bình thường.
Câu hỏi thường gặp
Lệnh zoom trong CAD gõ tắt là gì?
Gõ Z rồi Enter. Sau đó gõ tiếp chữ cái của lựa chọn, ví dụ E cho Extents hay W cho Window.
Làm sao thu nhỏ một đối tượng trong CAD?
Đó không phải việc của ZOOM mà của lệnh SCALE. ZOOM chỉ đổi chỗ đứng nhìn, đo lại đối tượng vẫn ra số cũ.
Vì sao gõ Zoom Scale xong thì mất bản vẽ?
Vì gõ số trần không có chữ X. Số trần so với phạm vi LIMITS, thường chẳng ăn nhập gì với mặt bằng. Luôn gõ kèm chữ X.
Con lăn chuột nhảy quá mạnh, chỉnh ở đâu?
Gõ ZOOMFACTOR rồi đặt giá trị khoảng 20 tới 30 thay cho 60 ngầm định.
Zoom Extents rồi mà bản vẽ vẫn bé tí ở một góc?
Trong bản vẽ có đối tượng nằm rất xa gốc toạ độ, thường do dán nhầm. Tìm và xoá nó đi rồi gõ lại Z E.
Bài viết liên quan
- AutoCAD là gì — cẩm nang cho người làm xây dựng, ba bản và cách học
- Bắt điểm trong CAD — bật, chỉnh và sửa lỗi không bắt được điểm
- Cách vẽ mũi tên trong CAD — chú thích MLEADER, mũi tên đặc và ký hiệu hướng nhìn
- AutoCAD nâng cao gồm những gì — mười kỹ năng nghề sau khi đã thạo lệnh vẽ