Bản vẽ không có chữ thì không ai đọc được. Nhưng chữ trong CAD là chỗ hồ sơ hay hỏng nhất: chữ nhỏ như kiến, sửa một dòng phải bấm ba lần, và tệ nhất là mở tệp của người khác ra thì chữ thành một dãy ký tự lạ.
Bài này đi theo đúng thứ tự cần dùng. Hai lệnh viết và chọn cái nào, bốn cách sửa, cách đổi cỡ cả loạt, rồi phần mất dấu tiếng Việt. Muốn học trọn khâu dựng hình và triển khai hồ sơ thì xem khóa AutoCAD Xây Dựng.
Hai lệnh viết chữ trong CAD, và chọn cái nào
AutoCAD có hai lệnh viết chữ. Chúng không phải hai cách làm cùng một việc, mà cho ra hai loại đối tượng khác hẳn nhau.
TEXT | MTEXT | |
|---|---|---|
| Kết quả | Mỗi dòng là một đối tượng riêng | Cả đoạn là một đối tượng |
| Lệnh tắt | DT | MT hoặc T |
| Định dạng | Cả dòng một kiểu | Đậm, nghiêng, phân số chồng, đổi màu từng chữ |
| Nền che | Không có | Có Background Mask |
| Hợp với | Tên phòng, cao độ, ký hiệu trục | Ghi chú nhiều dòng, bảng thuyết minh |
Quy tắc chọn rất gọn. Chữ ngắn đứng một mình thì dùng TEXT, vì sửa nhanh và chọn từng cái dễ. Đoạn văn nhiều dòng thì dùng MTEXT.
Riêng Background Mask đáng để ý. Nó đặt một lớp nền che phía sau chữ, nên ghi chú nằm trên vùng tô vật liệu vẫn đọc được mà không phải xén nét. Chỉ MTEXT có tùy chọn này, và cách dùng vùng tô nằm ở bài lệnh hatch trong CAD.
Lệnh viết chữ trong CAD: TEXT cho chữ một dòng
Gõ DT rồi Enter. Lệnh in ra một dòng trạng thái rồi hỏi điểm đặt chữ, chiều cao và góc xoay.
Có bốn phím tắt chỉ chạy trong lúc lệnh còn mở, và chúng tiết kiệm rất nhiều thời gian. Hết lệnh là mất, nên biết để dùng ngay.
| Thao tác | Kết quả |
|---|---|
| Enter ở dòng hỏi điểm đặt | Dòng mới nằm ngay dưới dòng vừa gõ, khỏi chỉ điểm lại |
| Bấm sang chỗ khác trên bản vẽ | Bắt đầu một cụm dòng mới ở chỗ vừa bấm |
Tab và Shift+Tab | Nhảy tới lui giữa các cụm dòng đã gõ |
Giữ Alt rồi bấm vào một dòng chữ | Sửa ngay cụm dòng ấy |
Chi tiết từng dòng nhắc nằm ở trang TEXT của hãng.
Lựa chọn Justify quyết định chữ bám vào điểm bạn chỉ theo cách nào. Có chín điểm neo, và tên của chúng ghép từ chữ đầu của hàng với chữ đầu của cột.
Chọn đúng điểm neo là việc đáng làm ngay từ đầu. Ký hiệu trục cột nên neo MC để chữ luôn nằm giữa vòng tròn, dù sau này đổi cỡ chữ. Neo BL rồi đổi cỡ thì chữ lệch khỏi tâm.
MTEXT cho đoạn nhiều dòng, và cách chuyển qua lại
Gõ MT rồi Enter, chỉ hai góc của khung soạn, rồi gõ chữ. Cả khối là một đối tượng, xuống dòng bao nhiêu lần cũng vậy.
Nhu cầu hay gặp là đã viết bằng loại này rồi lại cần loại kia. Lệnh TXT2MTXT gộp nhiều dòng TEXT thành một khối MTEXT. Chiều ngược lại thì dùng EXPLODE, nhưng phải biết cái giá của nó.
Trang TXT2MTXT nêu một cái bẫy mà không hướng dẫn nào nhắc. Gõ SE ở dòng nhắc để mở hộp thiết lập, trong đó có bốn lựa chọn đáng đọc. Và hãng ghi rõ điều kiện để giữ được các dòng riêng — "The mtext object retains the multiple lines because the three text objects were aligned vertically".
Nghĩa là các dòng chữ phải thẳng hàng dọc thì mới gộp thành nhiều dòng. Không thẳng hàng thì cả cụm dồn thành một dòng dài, hoặc bị bẻ dòng lung tung. Đây là lý do nhiều người gọi lệnh xong thấy ghi chú nát bét rồi phải hoàn tác.
Chiều ngược lại cũng mất mát. EXPLODE một khối MTEXT sẽ rã nó thành từng dòng TEXT, và mọi định dạng riêng trong khối đều biến mất: chữ đậm, chữ nghiêng, phân số chồng, màu đặt riêng cho vài chữ.
Sửa chữ trong CAD: bốn cách cho bốn việc khác nhau
Phần lớn người dùng chỉ biết một cách là bấm đúp. Bốn cách dưới đây hợp bốn việc khác nhau, và chọn đúng thì nhanh hơn hẳn.
| Việc cần làm | Lệnh | Ghi chú |
|---|---|---|
| Sửa nội dung một dòng | TEXTEDIT hoặc bấm đúp | Điểm neo và cỡ chữ giữ nguyên |
| Đổi cỡ cả loạt | SCALETEXT | Chữ to nhỏ đi mà không dịch chỗ |
| Đổi cách canh lề cả loạt | JUSTIFYTEXT | Đổi điểm neo mà chữ không xê dịch |
| Tìm và thay hàng loạt | FIND | Sửa được chữ nằm cả trong khối và trong kích thước |
Cái đáng nhớ nhất là SCALETEXT. Hãng mô tả nó "enlarges or reduces selected text objects without changing their locations", và điểm chuẩn được áp riêng cho từng đối tượng một. Đó là chỗ nó khác hẳn lệnh SCALE.
Dùng SCALE để phóng to một loạt chữ thì chúng vừa to lên vừa dãn xa nhau, vì tất cả bị phóng quanh một điểm chuẩn chung. Ký hiệu trục cột sẽ trôi khỏi vòng tròn của nó. SCALETEXT thì mỗi chữ to lên tại chỗ của nó. Xem trang SCALETEXT.
Chiều cao chữ trong CAD phải nhân theo tỷ lệ in
Đây là nguyên nhân số một của chữ nhỏ như kiến. Con số bạn gõ vào ô chiều cao là cỡ trong mô hình, còn thứ người đọc nhìn thấy là cỡ trên giấy sau khi chia cho tỷ lệ in.
Phép tính chỉ có một dòng: chiều cao gõ vào bằng chiều cao mong muốn trên giấy nhân với mẫu số tỷ lệ.
| Tỷ lệ in | Muốn chữ cao 2,5 mm trên giấy | Gõ vào ô Height |
|---|---|---|
| 1:50 | 2,5 nhân 50 | 125 |
| 1:100 | 2,5 nhân 100 | 250 |
| 1:200 | 2,5 nhân 200 | 500 |
Có hai cách khỏi phải tính mỗi lần. Cách thứ nhất là dựng sẵn vài kiểu chữ theo tỷ lệ và lưu vào tệp mẫu. Cách thứ hai là tích ô Annotative trong hộp kiểu chữ, khi ấy phần mềm hỏi cỡ trên giấy và tự nhân theo tỷ lệ khung nhìn.
Chữ trên đường kích thước thì theo một đường riêng, nói ở bài dim trong CAD.
Ghi chú trong CAD: kiểu chữ chi phối năm thứ cùng lúc
Đừng đặt phông và cỡ cho từng dòng chữ. Hãy đặt một lần trong kiểu chữ, rồi mọi chữ theo kiểu ấy đi theo.
| Số trên ảnh | Khối | Việc của nó |
|---|---|---|
| 1 | Styles | Danh sách kiểu chữ của bản vẽ, kiểu Standard không xóa được |
| 2 | Font | Chọn phông. Biểu tượng hai chữ T là phông TrueType |
| 3 | Size | Ô Annotative và ô Height, để 0 thì phần mềm hỏi cỡ mỗi lần |
| 4 | Effects | Width Factor cho chữ gầy hay béo, Oblique Angle cho chữ nghiêng |
Trang About Text Styles nêu một điều ít ai để ý. Kiểu chữ "apply to notes, leaders, dimensions, tables, and block attributes" — tức nó chi phối năm loại đối tượng chứ không riêng chữ ghi chú.
Hệ quả rất thật. Sửa phông của kiểu Standard là chữ trên đường kích thước, chữ trong bảng và chữ trong khối thuộc tính đều đổi theo. Vì thế một hồ sơ nên tách riêng vài kiểu, chẳng hạn một kiểu cho ghi chú, một kiểu cho kích thước, một kiểu cho khung tên.
Chữ cũng nên có lớp riêng để tắt cả bộ bằng một cú bấm khi cần xem hình cho gọn. Cách quản lý lớp nằm ở bài layer trong CAD.
Hãng cũng ghi rõ cơ chế cập nhật: "If you change a setting in a text style, all text objects in the drawing that use the style update automatically". Đây là mặt lợi, và cũng là lý do đừng sửa liều kiểu chữ của bản vẽ nhận từ người khác.
Chữ mất dấu và cách thêm font chữ vào CAD
Nhận bản vẽ, mở ra thấy chữ thành một dãy ký tự lạ. Đây là sự cố hay gặp nhất của hồ sơ Việt Nam, và nó có đúng ba nguyên nhân.
| Nguyên nhân | Dấu hiệu | Cách chữa |
|---|---|---|
| Máy thiếu phông | Chữ đúng nội dung nhưng sai dáng | Xin phông của bên gửi, chép vào thư mục Fonts |
| Bản vẽ dùng bảng mã cũ | Chữ thành ký tự lạ, dấu rơi lung tung | Cài đúng phông bảng mã ấy rồi mở lại |
| Kiểu chữ dùng phông SHX | Mất dấu, chữ cụt phần thanh dấu | Đổi kiểu chữ sang một phông TrueType Unicode |
Điều quan trọng nhất: đừng gõ lại. Nội dung chữ trong tệp vẫn nguyên vẹn, chỉ là máy bạn đang hiển thị nó bằng bảng mã khác. Gõ lại là làm hỏng một bản vẽ vốn không hỏng.
Khi thiếu phông, AutoCAD tự thay bằng một phông khác chứ không báo lỗi. Trang About Substitute Fonts cho biết phông thay thế khai ở biến FONTALT, và mặc định là simplex.shx. Đó chính là lúc chữ đúng nội dung nhưng sai dáng.
Còn một lớp nữa là bảng khai phông, tệp acad.fmp trong thư mục Support. Mỗi dòng trong tệp ấy viết theo mẫu tên phông thiếu;tên phông thay.ttf. Thêm một dòng vào đây là cả văn phòng mở tệp nào cũng ra đúng chữ, khỏi phải chữa từng máy.
Cách phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh. Chốt cho cả văn phòng một quy ước: mọi kiểu chữ dùng phông TrueType có đủ dấu Unicode, và cả hồ sơ chỉ dùng hai phông. Càng ít phông thì hồ sơ càng ít hỏng khi chuyền tay giữa các bên.
Phông SHX nhẹ và vẽ nhanh hơn, nhưng phần lớn phông SHX giao kèm phần mềm không có dấu tiếng Việt. Dùng bộ SHX Việt hóa thì phải gửi kèm tệp phông theo hồ sơ, nếu không bên nhận lại thấy ký tự lạ.
Câu hỏi thường gặp
Chữ trong CAD nhỏ li ti khi in, sửa ở đâu?
Chiều cao chữ là cỡ trong mô hình chứ không phải cỡ trên giấy. Nhân chiều cao mong muốn với mẫu số tỷ lệ in, hoặc tích ô Annotative để phần mềm tự nhân.
Phóng to một loạt chữ thì chúng dãn xa nhau, làm sao giữ nguyên chỗ?
Đừng dùng SCALE. Dùng SCALETEXT, vì nó lấy điểm chuẩn riêng cho từng chữ nên chữ to lên tại chỗ.
Mở bản vẽ ra thấy chữ thành ký tự lạ, có phải tệp hỏng không?
Không. Nội dung vẫn nguyên, chỉ là máy thiếu đúng phông hoặc bản vẽ dùng bảng mã cũ. Hỏi bên gửi tên phông, cài vào rồi mở lại.
Gộp mấy dòng chữ thành một đoạn thì chúng dồn hết vào một dòng?
Các dòng phải thẳng hàng dọc thì TXT2MTXT mới giữ được từng dòng riêng. Không thẳng hàng thì cả cụm dồn lại.
Sửa phông của kiểu Standard xong thì chữ trên kích thước cũng đổi theo?
Đúng, vì kiểu chữ chi phối cả ghi chú, đường dẫn, kích thước, bảng và khối thuộc tính. Nên tách riêng vài kiểu cho từng việc thay vì dùng chung một kiểu.