AutoCAD – Bản vẽ

Ký hiệu bản vẽ xây dựng: bảng tra 110 ký hiệu có hình theo TCVN hiện hành

110 ký hiệu bản vẽ xây dựng có hình vẽ kèm: cửa đi, cửa sổ, cầu thang, đường nét, vật liệu, kết cấu, điện nước và bảng viết tắt. Có mục tra nhanh và PDF để in.

  • GV. Nguyễn Bá Mùi
  • 29 phút đọc
Ký hiệu bản vẽ xây dựng là một hệ quy ước: cùng một nét đứt, đặt ở bản vẽ kết cấu là dầm dưới sàn, đặt ở bản vẽ điện là dây đi ngầm Ảnh: Hình vẽ của Viện Tin học Xây dựng

Người mới nhìn bản vẽ thấy những đường kẻ. Người đọc được bản vẽ thấy tường gạch, cửa mở vào trong, dầm 220×400, ổ cắm cách sàn 300. Khác biệt là một bảng ký hiệu bản vẽ xây dựng nằm sẵn trong đầu.

Bài này là bảng đó, viết ra để tra: 110 ký hiệu, mỗi ký hiệu có hình vẽ kèm. Các nhóm đi từ đường nét, vật liệu, kiến trúc, nội thất tới kết cấu, thép hình, điện nước và giao thông, san nền. Khép lại là bảng viết tắt. Toàn bộ hình do Viện tự vẽ nên bạn dùng và in lại thoải mái. Cuối bài có bản PDF gộp các bảng để in.

Tra nhanh theo bộ phận: cửa đi và cửa sổ · cầu thang · đồ nội thất · cốt thép và cấu kiện · thép hình · điện – nước.

Tra nhanh theo quy ước vẽ: đường nét và trục · vật liệu trên mặt cắt · giao thông, san nền · chữ viết tắt.

Mỗi nhóm có mức tin cậy khác nhau, nên bài nói rõ ngay từ đầu. Nhóm đường nét, đường trục và nhóm kiến trúc được đối chiếu với tiêu chuẩn, có dẫn nguồn ở từng mục. Nhóm điện và cấp thoát nước thì không, vì đó là dạng phổ biến trong hồ sơ chứ chưa đối chiếu tiêu chuẩn.

Nếu bạn cần học thứ tự đọc một bộ hồ sơ chứ không phải tra từng ký hiệu, hãy đọc bài Cách đọc bản vẽ xây dựng cho người không học ngành xây dựng trước. Còn ai muốn được cầm tay chỉ trên hồ sơ thật thì có khóa Đọc bản vẽ xây dựng sáu buổi của Viện.

Ký hiệu chung và tiêu chuẩn áp dụng

Ký hiệu và cách trình bày bản vẽ xây dựng ở Việt Nam theo hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về tài liệu thiết kế xây dựng. Bảng dưới là tiêu chuẩn đúng cho từng nhóm ký hiệu. Tình trạng hiệu lực đã rà trên cổng tra cứu tiêu chuẩn quốc gia.

Nhóm ký hiệuTiêu chuẩn hiện hànhGhi chú
Đường nét, đường trụcTCVN 5570:2012Thay bản 1991. Nét đậm rộng 0,5–1,4 mm tùy tỷ lệ; nét mảnh bằng 1/3–1/2 nét đậm
Khung tênTCVN 5571:2012Thay bản 1991
Vật liệu trên mặt cắtTCVN 7:1993Gạch chéo nghiêng 45°, khoảng cách tối thiểu 0,7 mm. Bê tông vẽ chéo xen nét liền với nét chấm gạch
Cửa, cầu thang, bộ phận nhàTCVN 4614:2012Thay bản 1988; đang có kế hoạch soát xét, Viện Kiến trúc Quốc gia đã công bố dự thảo
Kết cấu bê tông cốt thépTCVN 5572:2012 và TCVN 6084:2012Bản vẽ thi công và cách thể hiện cốt thép
ĐiệnTCVN 7922:2008 (IEC 60617)TCVN 185:1986 quen thuộc đã hết hiệu lực từ 2008
Cấp thoát nước, thiết bịTCVN 6077:2012TCVN 4615:1988 đã hết hiệu lực

Điểm đáng chú ý nhất: TCVN 185:1986 cho điện và TCVN 4615:1988 cho nước đều đã hết hiệu lực từ lâu. Nhiều tài liệu trên mạng vẫn dẫn hai bản này. Hình vẽ trong các bảng tra dưới đây được đối chiếu với TCVN 7:1993 bản gốc và bản dự thảo thay TCVN 4614 của Viện Kiến trúc Quốc gia.

Có một điều cần nhớ trước khi tra bất kỳ bảng nào. Hồ sơ của từng công ty có thể khác tiêu chuẩn ở chi tiết. Vì vậy tờ ghi chú chung và bảng ký hiệu riêng của bộ hồ sơ luôn được ưu tiên hơn bảng tra chung. Bảng dưới đây giúp bạn đọc nhanh khi bộ hồ sơ không có bảng riêng, hoặc khi bảng riêng bỏ sót.

Một điều cần nắm trước khi tra, nhất là với người mới: cùng một đối tượng có thể mang ký hiệu khác nhau tùy loại hình biểu diễn. Mặt bằng là nhìn từ trên xuống qua mặt cắt ngang quy ước. Mặt cắt là cắt đứng qua công trình. Mặt đứng là nhìn thẳng vào mặt ngoài. Vì vậy mỗi bảng dưới đây đều ghi rõ ký hiệu thuộc loại hình biểu diễn nào, và từng dòng ghi thêm khi có ngoại lệ.

Ký hiệuTên gọiÝ nghĩa khi gặp
Nét liền đậmĐường bao thấy được của cấu kiện bị cắt: tường, cột trên mặt bằng
Nét liền mảnhĐường bao không bị cắt, đường kích thước, đường gióng, nét gạch vật liệu
Nét đứtCạnh khuất: dầm dưới sàn, móng dưới nền, cấu kiện tầng dưới
Nét chấm gạch mảnhĐường trục, đường tâm
Nét chấm gạch đậmVị trí mặt phẳng cắt
Nét lượn sóngĐường cắt lìa, giới hạn hình vẽ khi không vẽ hết
Nét zíc zắcCũng là cắt lìa, hay dùng cho cấu kiện dài
2Trục sốTrục theo một phương, thường là phương ngang của mặt bằng
BTrục chữTrục theo phương còn lại
B'Trục phụTrục xen giữa hai trục chính
±0.000Cao độ gốcMốc ±0.000, thường là mặt sàn tầng một đã hoàn thiện. Tam giác tô đen: mặt bị cắt
+3.600Cao độ nhìn thấyCao độ so với mốc, đơn vị mét, ghi ba chữ số thập phân. Tam giác để trắng
3600Đường kích thướcKích thước thực, đơn vị mm. Hai đầu giới hạn bằng gạch chéo là kiểu phổ biến ở Việt Nam
4×900 = 3600Kích thước lặpBốn khoảng bằng nhau, mỗi khoảng 900, tổng 3600
AAKý hiệu mặt cắtVị trí và hướng nhìn của mặt cắt A–A. Mũi tên chỉ hướng người xem nhìn vào
3KC-05Chỉ dẫn chi tiếtChi tiết số 3, được vẽ ở tờ KC-05

Hai bẫy hay gặp ở nhóm này. Thứ nhất, trên bản vẽ xây dựng Việt Nam kích thước ghi bằng mm nhưng cao độ ghi bằng mét, nên +3.6003600 là cùng một khoảng cách. Thứ hai, ký hiệu trục và cao độ phải đọc cùng ghi chú chung, vì mỗi bộ hồ sơ chọn mốc ±0.000 khác nhau.

Một câu hay được hỏi: chiều dày ghi bằng ký hiệu gì? Chiều dày không có ký hiệu hình riêng, nó luôn được ghi bằng chữ và số. Cách ghi thay đổi theo bộ phận. Tường ghi thẳng kích thước trên mặt bằng, 110 hoặc 220 là chiều dày phần xây chưa trát. Sàn và bản ghi bằng chữ h, ví dụ h=100. Thép tấm và thép bản ghi bằng δ hoặc t, ví dụ δ10 là tấm dày 10 mm. Lớp cấu tạo trong mặt cắt thì ghi theo từng lớp kèm chiều dày, đọc từ trên xuống. Gặp cách ghi lạ thì tra tờ ghi chú chung, vì đây là chỗ mỗi công ty có quy ước riêng.

Bảng tra ký hiệu vật liệu

Nhóm này thể hiện trên mặt cắt. Cột đầu lấy nguyên từ bảng của TCVN 7:1993, tiêu chuẩn vật liệu còn hiệu lực. Nhưng thực tế nhiều hồ sơ vẽ theo kiểu trực quan hơn, lấy từ thư viện nét gạch của phần mềm, và người đọc bản vẽ quen với kiểu đó hơn. Nên với những vật liệu hay lệch nhau, bảng đặt hai kiểu cạnh nhau: gặp kiểu nào bạn cũng nhận ra.

Theo TCVNThường thấy trên bản vẽVật liệuCách đọc
Kim loạiMặt cắt để trống. Mặt cắt hẹp thì cho phép tô đen
Đất thiên nhiênTCVN chỉ vẽ cụm chéo ngắn dọc đường bao; hồ sơ thực tế hay gạch chéo kín xen chấm
ĐáTCVN gạch chéo nét đứt; thực tế hay vẽ tam giác rải trong mặt cắt
Gạch các loạiGạch chéo 45° nét liền, hai bên thống nhất
Bê tôngTCVN chéo xen nét chấm gạch; thực tế hay chấm xen tam giác theo thư viện phần mềm
Bê tông cốt thépNhư bê tông nhưng các đường sít hơn
GỗVân cung tròn, được phép vẽ tay
Kính, vật liệu trong suốtCặp nét xiên ngắn rải đều
Chất lỏng, nướcNét ngang đứt quãng, so le
Chất dẻo, cách điện, cách nhiệt, cách ẩmCa-rô đan chéo

Hai quy ước ít người biết nằm ở chú thích của chính TCVN 7:1993: ký hiệu đất thiên nhiên chỉ vẽ ở đường bao của mặt cắt, và các cung vân gỗ được phép vẽ tay. Trên cùng một bản vẽ, khi hai vật liệu mang ký hiệu gần giống nhau thì chú thích tên vật liệu ngay cạnh hình.

Nếu bạn thấy bảng này khác với nhiều bài trên mạng thì đây là lý do. Phần lớn các bảng đang lan truyền chụp lại thư viện nét gạch của phần mềm nước ngoài, nơi bê tông vẽ bằng chấm xen tam giác, hoặc chụp bộ thư viện CAD riêng của một công ty. Có bảng còn dán hai kiểu khác nhau cho cùng chữ "bê tông". Bảng ở đây vẽ lại theo đúng bản gốc TCVN 7:1993 đang có hiệu lực, sai khác đó không phải lỗi hiển thị.

Bảng tra ký hiệu bản vẽ kiến trúc

Nhóm này thể hiện trên mặt bằng, trừ dòng nào ghi khác. Cao độ bệ cửa, chiều cao cửa xem ở mặt cắt và mặt đứng.

Ký hiệuĐối tượngCách đọc
Tường xây gạch bị cắtHai nét đậm, giữa là gạch chéo 45°. Chiều dày theo kích thước ghi, thường 110 hoặc 220
Tường, cột bê tông cốt thépGạch chéo 45° xen nét liền với nét chấm gạch, các đường sít hơn tường xây. Phần mềm nước ngoài hay vẽ chấm xen tam giác, nhưng TCVN 7:1993 quy định kiểu chéo này
Vách ngăn nhẹ, vách kínhNét mảnh song song, không chịu lực. Vật liệu ghi kèm bằng chữ
Cửa đi một cánhCung tròn chỉ hướng mở. Chân cung nằm ở bản lề, không phải ở khóa
Cửa đi hai cánhHai cung đối xứng, mở về hai phía
Cửa lùa (cửa trượt)Cánh vẽ lệch ra ngoài mặt tường, nối với ô cửa bằng nét đứt mảnh
Cửa đi cánh xếpCác cánh gấp khúc như đàn xếp, khác hẳn cửa lùa dù cùng là cửa không quay
Cửa đi bốn cánhBốn cung liền nhau, gặp ở sảnh và phòng khách rộng
Cửa mở hai chiềuCung mở về cả hai phía, loại cánh lò xo ở lối đi chung
Cửa cuốnHộp lô cuốn vẽ phía trên, các nan cửa phía dưới. Mặt tiền nhà phố gần như luôn có
Cửa sổKhoảng hở trên tường với hai hoặc ba nét mảnh. Cao độ bệ cửa xem ở mặt cắt
Cầu thangBậc là nét mảnh. Dấu chấm đặt ở khởi điểm bậc đầu tiên, mũi tên từ đó chỉ hướng đi lên. Nét xiên là dấu ngắt bậc, cắt ở cao độ 1 m so với mặt sàn
Thang máyHình chữ nhật có hai đường chéo
Bồn cầuVẽ đơn giản, thường là khối chuẩn nên không đúng tỷ lệ chi tiết
Chậu rửaĐiểm chấm giữa là vị trí thoát sàn hoặc thoát chậu
Phễu thu sànGa thu nước ở sàn vệ sinh, ban công. Sàn quanh nó phải dốc về đây
Vòi tắm hương senĐối chiếu cao độ chờ ống ở bản vẽ nước
i = 2%Độ dốc mái, nềnMũi tên chỉ hướng nước chảy, tức hướng thấp dần
Lỗ kỹ thuật, hộp genNơi ống và dây đi xuyên tầng. Đối chiếu với bản vẽ điện nước cùng tầng

Ký hiệu cửa đi và cửa sổ trong bản vẽ

Đây là nhóm được tra nhiều nhất, và cũng là nhóm dễ đọc sai nhất.

Phân biệt nhanh trên mặt bằng: cửa đi có cung tròn, cửa sổ thì không. Cửa đi luôn kèm một cung chỉ hướng mở cánh. Cửa sổ là một khoảng hở trên tường vẽ bằng hai hoặc ba nét mảnh song song, nằm gọn trong bề dày tường. Còn một lỗ mở không có cung cũng không có nét mảnh song song thì đó là ô trống hoặc cửa không cánh, không phải cửa sổ.

Bẫy của cung mở cửa nằm ở chân cung. Chân cung đặt tại bản lề, không phải tại tay nắm. Đọc nhầm chân cung là hiểu ngược bên bản lề, dẫn tới đặt công tắc đèn sau cánh cửa mở — lỗi kinh điển khi phối hợp bản vẽ kiến trúc với bản vẽ điện.

Cửa sổ trên mặt bằng không cho biết chiều cao. Mặt bằng chỉ nói cửa rộng bao nhiêu và nằm ở đâu. Cao độ bệ cửa và chiều cao cửa phải xem ở mặt cắt hoặc mặt đứng.

Ngoài ký hiệu hình, cửa còn được đánh mã bằng chữ. Cửa đi ghi D1, D2, cửa sổ ghi S1, S2, hoặc theo quy ước riêng của công ty. Mã này không cho biết kích thước — muốn biết kích thước, vật liệu, loại kính và số lượng thì tra bảng thống kê cửa, thường nằm ở tờ cuối phần kiến trúc. Đừng đo trên mặt bằng để lấy kích thước cửa.

Ký hiệu cầu thang: dấu chấm, mũi tên và nét ngắt bậc

Cầu thang trên mặt bằng gồm ba dấu hiệu đi cùng nhau. Các bậc vẽ bằng nét mảnh song song. Dấu chấm đặt ở khởi điểm của bậc đầu tiên. Mũi tên đi từ dấu chấm và luôn chỉ hướng đi lên.

Chỗ hay nhầm là mũi tên. Nó chỉ hướng lên ở mọi tầng, nên trên mặt bằng tầng hai, mũi tên chỉ tiếp lên tầng ba chứ không phải xuống tầng một. Người mới hay đọc ngược và nghĩ vế thang bị vẽ sai.

Dấu hiệu thứ ba là nét xiên cắt ngang vế thang. Đó là dấu ngắt bậc, quy ước cắt ở cao độ khoảng 1 m so với mặt sàn đang đứng. Phần vế thang phía trên nét xiên bị mặt phẳng cắt của mặt bằng cắt qua nên không vẽ tiếp.

Ký hiệu đồ nội thất trên mặt bằng

Nhóm này không có tiêu chuẩn bắt buộc. Đồ nội thất được vẽ theo hình chiếu bằng, với mặt cắt quy ước lấy ở cao độ khoảng 900 mm so với sàn, nên nhìn ký hiệu giống nhìn đồ vật từ trên xuống. Chúng xuất hiện dày đặc trên mặt bằng bố trí nội thất, tờ bản vẽ mà chủ nhà xem nhiều nhất.

Ký hiệuĐồ vậtCách đọc
Giường đôiHai gối quay về phía đầu giường, đầu giường áp tường
Tủ quần áoThanh treo dọc giữa, các vạch ngắn là móc áo
Ghế sofaSố khoang đệm là số chỗ ngồi
Bàn ănSố ghế vẽ quanh bàn đúng bằng số chỗ ăn
Bếp nấuHai hoặc bốn vòng tròn là các vùng nấu
Tủ lạnhCần chừa khoảng mở cửa về phía tay nắm
Máy giặtVòng tròn là lồng giặt. Đối chiếu vị trí chờ cấp thoát nước
Bồn tắm nằmChấm đen là vị trí thoát. Sàn quanh bồn cần chống thấm

Đọc nhóm này không cần thuộc lòng: hình vẽ mô phỏng hình dáng thật của đồ vật. Giá trị của nó nằm ở chỗ khác — vị trí đồ nội thất quyết định vị trí ổ cắm, công tắc và điểm chờ nước ở các bản vẽ điện nước phía sau.

Nhóm nội thất khép lại phần kiến trúc. Ba nhóm còn lại của bộ hồ sơ — kết cấu, điện nước, hạ tầng — dùng hệ ký hiệu riêng, tra ở các bảng dưới.

Bảng tra ký hiệu bản vẽ kết cấu

Nhóm này lẫn cả hai loại hình biểu diễn: móng, cọc, cột, dầm, vách thể hiện trên mặt bằng; thép dọc và cốt đai thể hiện trên mặt cắt cấu kiện; móc uốn nằm ở hình khai triển thép.

Ký hiệuĐối tượngCách đọc
Cọc tròn, cọc khoan nhồiCó đánh số, đi kèm bảng tọa độ cọc
Cọc vuông, cọc épPhân biệt với cọc tròn ngay ở hình dạng mặt bằng
C1Cột trên mặt bằngGhi C1, C2. Tiết diện ghi dạng rộng × cao, ví dụ 300×500
D1 (220×400)Dầm dưới sànVẽ nét đứt vì dầm nằm dưới mặt phẳng cắt. 220×400 là rộng 220, cao 400
V1Vách, lõi bê tôngHình chữ nhật dài tô đen, chiều dày ghi kèm
Thép dọc trên mặt cắtMỗi chấm đen là một thanh bị cắt ngang. Đếm chấm là biết số thanh
Cốt đaiVòng khép kín quanh thép dọc, có móc ở đầu
4Ø16Ghi thép dọcBốn thanh, đường kính 16 mm. Øϕ đều là đường kính
Ø8a150Ghi thép đai, thép sànĐường kính 8, đặt cách nhau 150 mm. a là bước thép
Móc uốn đầu thanhUốn 90° hoặc 180°, thể hiện trên hình khai triển thép

Phần còn lại của bản vẽ kết cấu là ký hiệu bằng chữ và bằng số, không có hình riêng nhưng cũng cần thuộc.

Ghi trên bản vẽNghĩa
S1 (h = 120)Sàn loại 1, dày 120 mm
M1, M2Ký hiệu móng, tra tờ chi tiết móng tương ứng
LT, GTLanh tô, giằng tường
B20, B25, B30Cấp độ bền bê tông theo cách ghi hiện hành
M250, M300Mác bê tông theo cách ghi cũ, vẫn gặp ở hồ sơ cải tạo
CB240-T, CB300-V, CB400-VMác thép thanh theo TCVN 1651. T là thanh tròn trơn, V là thanh vằn
AI, AII, AIIICách ghi mác thép cũ, tương ứng gần đúng với CB240, CB300, CB400
a = 25Chiều dày lớp bê tông bảo vệ, tính bằng mm
30d, 40dChiều dài neo hoặc nối, bằng 30 hoặc 40 lần đường kính thanh

Thép hình trong kết cấu thép

Nhà thép tiền chế và các chi tiết sắt trong nhà dân dụng dùng thêm bộ mặt cắt thép hình. Kèm mỗi mặt cắt là cách ghi tắt trên bản vẽ.

Ký hiệuLoại thépCách ghi trên bản vẽ
Thép I, thép HI200 là thép I cao 200 mm; thép H ghi kèm cả hai cạnh, ví dụ H300×300
Thép U, thép CU120; hai thanh ghép ghi 2U120
Thép góc LL50×50×5 là hai cạnh 50 mm, dày 5 mm
Thép hộp☐100×50×2: tiết diện 100×50, dày 2 mm
Thép ốngD60×3: đường kính ngoài 60 mm, dày 3 mm

Ký hiệu giao thông, san nền và hạ tầng

Hồ sơ hạ tầng, đường nội bộ và san nền có bộ ký hiệu riêng mà bản vẽ nhà dân dụng ít gặp. Nhóm này thể hiện trên mặt bằng, trừ rãnh thoát nước vẽ kèm mặt cắt.

Ký hiệuĐối tượngCách đọc
Ta luy đắpVạch dài xen vạch ngắn, gốc vạch ở mép trên của mái dốc
Ta luy đàoCùng quy ước nhưng gốc vạch ở mép chân đào, hướng ngược lại
+12.00Đường đồng mứcNối các điểm cùng cao độ. Đường cái vẽ đậm hơn và ghi số; các đường càng sít nhau thì địa hình càng dốc
KM 0+250Tim tuyếnNét chấm gạch, ghi lý trình dạng KM 0+250, nghĩa là cách gốc tuyến 250 mét
M1Cọc mốcMốc định vị và mốc cao độ khi san nền, có bảng tọa độ kèm theo
i = 0,5%Hướng dốc san nềnMũi tên chỉ chiều nước chảy kèm độ dốc thiết kế
Rãnh thoát nướcHình thang trên mặt cắt; trên mặt bằng là hai nét song song men theo tuyến

Người làm dự toán và kỹ sư QS sống với hai bảng trên. Bài Bóc tách khối lượng là gì? nói về những lỗi hay gặp khi lấy số từ bản vẽ kết cấu.

Một quy ước dễ quên nhưng ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng: kích thước trên bản vẽ kết cấu là kích thước bê tông thô. Nó nhỏ hơn kích thước kiến trúc ở cùng vị trí, vì bên kiến trúc đã tính cả lớp trát và lớp ốp.

Bảng tra ký hiệu bản vẽ điện – nước

Ký hiệu điện nước thay đổi giữa các công ty nhiều hơn hai bộ môn trên. Bảng dưới nêu dạng phổ biến. Luôn đối chiếu với bảng ký hiệu ở tờ đầu bộ bản vẽ trước khi dùng.

Điện — ký hiệu thiết bị đặt trên mặt bằng; sơ đồ nguyên lý tủ điện là bản vẽ riêng không theo tỷ lệ.

Ký hiệuĐối tượngCách đọc
TĐ-T1Tủ điệnSơ đồ nguyên lý của tủ nằm ở tờ riêng
Ổ cắm đơnCao độ lắp đặt ghi ở ghi chú chung, ví dụ +300
Ổ cắm đôiSố gạch cho biết số lỗ cắm
Công tắc một chiềuMột nét xiên là một đường
Công tắc hai chiềuHai nét xiên, dùng cho đèn cầu thang, hành lang
Đèn chiếu sáng chungCông suất và loại tra ở bảng thiết bị
Đèn tuýpChiều dài trên bản vẽ tương ứng chiều dài thật
Đèn downlight âm trầnĐối chiếu với bản vẽ trần để biết vị trí chính xác
Quạt trần, quạt hútLoại và lưu lượng ghi ở bảng thiết bị
2×2.5 + E2.5Đường dây2×2.5 + E2.5 là hai dây tiết diện 2,5 mm² kèm một dây tiếp địa 2,5 mm²
200×100Máng cáp, thang cápKích thước ghi rộng × cao, đơn vị mm
Tiếp địaBa gạch ngang ngắn dần
Dàn lạnh điều hòaKèm vị trí dàn nóng và đường ống bảo ôn trên bản vẽ riêng
Bình nóng lạnhCó công tắc riêng, thường 20 A
TV / NETỔ cắm mạng, truyền hìnhĐi ống riêng với điện lực, tránh nhiễu
Chuông điệnĐi kèm nút ấn ở cửa
AptomatGhi dòng cắt kèm theo, ví dụ MCB 32A. Nằm trong sơ đồ nguyên lý tủ điện
Đèn thảĐèn bàn ăn, đèn trang trí. Cao độ thả ghi ở ghi chú
Quạt hútMũi tên chỉ hướng gió thải ra. Gặp ở vệ sinh và bếp
CameraVị trí và vùng quan sát, cáp tín hiệu đi ống riêng
Điểm phát wifiChờ nguồn và dây mạng tại vị trí gắn

Một điều cần biết trước khi tra: nhóm điện là nhóm lệch nhau nhiều nhất giữa các bộ hồ sơ. Hồ sơ nhà ở của các công ty thiết kế thường dùng thư viện riêng, ổ cắm có nơi vẽ như chiếc dù, công tắc vẽ như nốt nhạc với số vạch là số phím. Bảng dưới vẽ theo dạng của IEC 60617, bộ ký hiệu mà TCVN 7922:2008 hiện hành chấp nhận, cũng là dạng phổ biến trong hồ sơ dự án lớn. Gặp hồ sơ nhà ở thì tra bảng ký hiệu ở tờ đầu của chính bộ đó trước.

Đường dây vẽ nét liền là đi trong trần hoặc trong tường, vẽ nét đứt là đi ngầm dưới sàn. Đây là chỗ nét đứt mang nghĩa khác hẳn bản vẽ kết cấu, nên đừng mang thói quen từ bộ môn này sang bộ môn kia.

Nước — đường ống và thiết bị đặt trên mặt bằng; riêng rãnh thoát và chi tiết hố ga có mặt cắt riêng.

Ký hiệuĐối tượngCách đọc
CL — D25Ống cấp nướcCL là nước lạnh, CN là nước nóng. D25 là đường kính danh nghĩa 25 mm
TX — D110Ống thoát nướcTX thoát xí, TR thoát rửa, TM thoát mưa
THỐng thông hơiGhi TH, nối lên mái để hệ thoát không bị hút khí
Van cổngHai tam giác đối đỉnh, dạng van hay gặp nhất
Van một chiềuTam giác tô đen chỉ chiều nước được phép chảy
HG-1Hố gaGhi kèm cao độ đáy và cao độ đỉnh
MĐồng hồ nướcVị trí đo đếm, thường ở ranh giới cấp nước
i = 2%Độ dốc ốngi = 2% nghĩa là cứ 1 mét chiều dài thì hạ 20 mm
Máy bơmTam giác đen chỉ chiều bơm. Bơm tăng áp ghi chú riêng
Két nước, bể máiTrong lòng vẽ ký hiệu chất lỏng. Ghi kèm dung tích
Rắc coMối nối tháo được, đặt ở chỗ cần tháo thiết bị ra sửa
Côn thuChỗ đổi cỡ ống, ví dụ từ D32 xuống D25
Chia nhánh vuông góc từ ống chính

Nguyên tắc chung với cả hai hệ. Ký hiệu trên mặt bằng cho biết vị trí, sơ đồ nguyên lý cho biết kết nối, bảng thiết bị cho biết loại và công suất. Phải đọc cả ba mới hiểu được hệ thống, đọc một tờ thì chỉ thấy một phần ba câu chuyện.

Khi hồ sơ chuyển sang mô hình BIM, những ký hiệu này thành đối tượng có thuộc tính thật, đo được và thống kê được. Bài BIM là gì? giải thích bước chuyển đó.

Ký hiệu viết tắt hay gặp trên bản vẽ

Ngoài ký hiệu hình, bản vẽ dùng rất nhiều chữ viết tắt. Không có tiêu chuẩn nào gom đủ chúng, vì phần lớn là quy ước nghề truyền lại. Bảng dưới là những viết tắt gặp thường xuyên nhất trong hồ sơ nhà dân dụng.

Viết tắtNghĩa
MB, , MCMặt bằng, mặt đứng, mặt cắt
TL 1:50Tỷ lệ bản vẽ
CTChi tiết. CT-03 là chi tiết số 3
KT-01, KC-01, Đ-01, N-01Mã tờ: kiến trúc, kết cấu, điện, nước
BTCTBê tông cốt thép
VXM M75Vữa xi măng mác 75
LT, GTLanh tô, giằng tường
WCKhu vệ sinh
LGLô gia
SHCPhòng sinh hoạt chung
TTThông tầng. Trên mặt bằng là ô trống nhìn xuống tầng dưới
CL, CN, TX, TR, TM, THCác đường ống nước, xem bảng điện nước ở trên

Gặp viết tắt không có trong bảng thì tra tờ ghi chú chung của bộ hồ sơ. Hồ sơ làm cẩn thận luôn giải nghĩa viết tắt riêng của mình ở đó.

Ghép ký hiệu lại: đọc một mảnh mặt bằng

Thuộc từng ký hiệu rời chưa đủ. Bản vẽ thật là nhiều ký hiệu chồng lên nhau trong một hình.

Một mảnh mặt bằng với các ký hiệu thường gặp Ảnh: Cùng một mảnh mặt bằng: lưới trục ở mép, tường gạch và cột bê tông phân biệt bằng nét gạch vật liệu, cửa có cung mở, cầu thang có mũi tên lên, và ký hiệu mặt cắt A–A cắt ngang

Thứ tự đọc một mảnh như trên gồm bốn bước. Trước hết tìm lưới trục để định vị mình đang ở đâu trong công trình. Sau đó phân biệt kết cấu chịu lực với tường ngăn, dựa vào nét gạch vật liệu. Rồi đọc các lỗ mở là cửa đi và cửa sổ, kèm hướng mở. Cuối cùng tìm ký hiệu mặt cắt để biết cần lật sang tờ nào khi muốn xem chiều cao.

Tải bảng tra để in

Các bảng trên được gộp thành một tệp PDF bảy trang, giữ nguyên hình vẽ, in ra khổ A4 là dùng được.

**Tải bảng tra ký hiệu bản vẽ xây dựng (PDF)**

Bảng tra giúp bạn nhận ra ký hiệu. Để đọc trọn một bộ hồ sơ và phát hiện chỗ các bộ môn không khớp nhau thì cần thực hành trên hồ sơ thật, có người chữa. Khóa Đọc bản vẽ xây dựng sáu buổi của Viện dành cho người ngoài ngành đi đúng trình tự đó. Người muốn tự triển khai bản vẽ đúng ký hiệu thì học AutoCAD từ cơ bản đến nâng cao.

Câu hỏi thường gặp

Ký hiệu bản vẽ xây dựng có giống nhau giữa các công ty không?

Phần kiến trúc và kết cấu phần lớn giống nhau vì theo TCVN. Phần điện nước khác nhau nhiều hơn, một phần vì tiêu chuẩn cũ đã hết hiệu lực còn bộ hiện hành theo IEC chưa phủ hết thói quen vẽ trong nước. Luôn đọc tờ ghi chú chung và bảng ký hiệu riêng của bộ hồ sơ trước khi dùng bảng tra chung.

Ø8a150 nghĩa là gì?

Thép đai hoặc thép sàn đường kính 8 mm, đặt cách nhau 150 mm. Chữ a là bước thép. Ở đầu dầm thường ghi a100, tức đai dày hơn vì lực cắt lớn hơn.

220×400 trên dầm là rộng trước hay cao trước?

Rộng trước, cao sau. Dầm rộng 220 mm, cao 400 mm tính cả chiều dày sàn. Một số hồ sơ ghi ngược, nên kiểm tra lại với mặt cắt dầm khi con số trông bất thường.

Nét đứt trên mặt bằng nghĩa là gì?

Tùy bộ môn. Trên mặt bằng kết cấu thường là dầm nằm dưới sàn hoặc cấu kiện tầng dưới. Trên mặt bằng điện lại là đường dây đi ngầm sàn. Đọc kèm ghi chú của chính tờ đó.

Hình trong bài có đúng tiêu chuẩn không, và có được dùng lại không?

Nhóm đường nét, vật liệu và kiến trúc được đối chiếu trực tiếp với TCVN 5570:2012, TCVN 7:1993 và bộ ký hiệu cấu tạo nhà. Nhóm kết cấu, điện và nước vẽ theo dạng phổ biến trong hồ sơ Việt Nam; tiêu chuẩn hiện hành của từng nhóm ghi ở bảng đầu bài, và bảng ký hiệu của chính bộ hồ sơ luôn là bảng phải theo trước tiên. Toàn bộ hình do Viện tự vẽ, không sao chép từ sách hay hồ sơ nào, nên bạn in ra, chiếu trong lớp hay đưa vào tài liệu nội bộ đều được.

Ký hiệu theo chuẩn nước ngoài có khác không?

Khác ở chi tiết như ký hiệu cửa, ký hiệu thép, ký hiệu thiết bị điện. Giống ở nguyên tắc đường nét, trục và cao độ. Hồ sơ dự án vốn nước ngoài thường kèm bảng ký hiệu riêng, và đó là bảng phải theo.

Bài viết liên quan

Về tác giả

GV. Nguyễn Bá Mùi — Giảng viên khóa Đọc bản vẽ xây dựng và các khóa ETABS, SAP2000, SAFE tại Viện Tin học Xây dựng – Trường Đại học Xây dựng Hà Nội; giám đốc điều hành một công ty tư vấn thiết kế kết cấu