AutoCAD – Bản vẽ

Cách đọc bản vẽ kết cấu bê tông cốt thép: đọc từ ghi chú chung đến bảng thống kê thép

Cách đọc bản vẽ kết cấu theo đúng thứ tự: ghi chú chung, mặt bằng móng, mặt bằng tầng, mặt cắt dầm cột, bảng thống kê thép. Giải mã cách ghi 4Ø20 và Ø8a150.

  • GV. Nguyễn Bá Mùi
  • 20 phút đọc
Một mặt cắt dầm chứa gần như toàn bộ ngữ pháp của bản vẽ kết cấu: thép chủ, cốt đai, lớp bê tông bảo vệ và cách ghi đường kính Ảnh: Hình vẽ của Viện Tin học Xây dựng

Học cách đọc bản vẽ kết cấu là chỗ nhiều người bỏ cuộc. Trong bộ hồ sơ thiết kế, bản vẽ kiến trúc dễ đọc nhất, còn bản vẽ kết cấu thì không. Lý do không phải vì nó khó hơn, mà vì nó là một ngôn ngữ khác. Bản vẽ kiến trúc mô tả thứ bạn sẽ nhìn thấy. Bản vẽ kết cấu mô tả thứ nằm bên trong bê tông, bằng một hệ quy ước mà nếu không ai chỉ thì không đoán ra được: 4Ø16 là gì, vì sao dầm lại vẽ bằng nét đứt, con số a150 nói lên điều gì.

Bài này hướng dẫn cách đọc bản vẽ kết cấu bê tông cốt thép theo đúng thứ tự một kỹ sư làm khi nhận hồ sơ mới. Từ tờ ghi chú chung — tờ quyết định cách hiểu cả tập bản vẽ mà hầu như không tài liệu nào nhắc — cho tới bảng thống kê thép. Cuối bài là bảy lỗi đọc sai hay gặp nhất, và một mục ngắn cho ai đang cần đọc bản vẽ kết cấu thép.

Bộ bản vẽ kết cấu gồm những tờ nào

Một bộ bản vẽ kết cấu nhà dân dụng thường xếp theo trình tự từ dưới lên trên, đúng trình tự thi công.

Nhóm tờNội dungTrả lời câu hỏi
Ghi chú chungVật liệu, quy ước, lớp bảo vệ, neo nốiCả tập bản vẽ này hiểu theo luật nào
Mặt bằng móngĐài móng, giằng móng, cọcCông trình đứng trên cái gì
Chi tiết móngMặt cắt từng loại móng, bố trí thépMỗi móng có bao nhiêu thép, đặt thế nào
Mặt bằng kết cấu tầngCột, dầm, sàn từng tầngTầng này có những cấu kiện nào, ở đâu
Mặt bằng bố trí thép sànThép lớp dưới, lớp trên, thép mũ, thép gia cườngMỗi ô sàn đặt thép gì, theo phương nào
Chi tiết dầm, cộtMặt cắt và khai triển thép theo nhịpTrong mỗi cấu kiện có gì
Cầu thangBản thang, dầm chiếu nghỉ, chiếu tớiThang chịu lực thế nào, neo vào đâu
Chi tiết cấu tạoLanh tô, giằng tường, ô văng, sê nô, bể nước, lõi thang máyNhững cấu kiện nhỏ không thấy trên mặt bằng
Bảng thống kê thépSố hiệu, hình dạng, chiều dài, số thanhCần mua và gia công bao nhiêu thép
Bộ bản vẽ kết cấu gồm năm nhóm tờ và thứ tự đọc: ghi chú chung, mặt bằng móng, mặt bằng kết cấu tầng, chi tiết dầm cột sàn, bảng thống kê thép Ảnh: Hình vẽ của Viện Tin học Xây dựng

Thứ tự đọc thì ngược với thói quen của nhiều người: đừng mở tờ chi tiết trước. Đọc ghi chú chung, rồi mặt bằng để biết cấu kiện nằm đâu và tên gì, sau đó mới tra tờ chi tiết theo tên. Mở thẳng tờ chi tiết dầm mà chưa biết dầm đó nằm ở trục nào thì đọc xong cũng không dùng được.

Bộ hồ sơ đầy đủ còn có bản vẽ kiến trúc và điện nước đi kèm. Bài Cách đọc bản vẽ xây dựng mô tả trình tự đọc cả bộ hồ sơ; bài này chỉ đi sâu phần kết cấu.

Ghi chú chung: tờ quyết định cách hiểu cả tập bản vẽ

Đây là tờ bị bỏ qua nhiều nhất, và cũng là tờ khiến người đọc hiểu sai nhiều nhất. Nó thường nằm ngay đầu tập kết cấu, chỉ toàn chữ, không có hình, nên người mới lật qua rất nhanh. Nhưng mọi con số ở các tờ sau đều được hiểu theo tờ này.

Bốn nhóm thông tin cần đọc kỹ.

Vật liệu bê tông. Ghi dạng B20, B22,5, B25 — đó là cấp độ bền chịu nén theo cách ghi hiện hành. Hồ sơ cũ và hồ sơ cải tạo còn ghi kiểu mác M250, M300. Hai cách ghi không quy đổi một-một cho nhau, nên khi lập dự toán phải giữ đúng ký hiệu ghi trên bản vẽ chứ không tự đổi.

Nhóm thép. Ghi dạng CB240-T, CB300-V, CB400-V theo TCVN 1651-2:2018. Chữ T là thép thanh tròn trơn, chữ V là thép thanh vằn. Con số là giới hạn chảy tính bằng MPa. Hồ sơ cũ ghi AI, AII, AIII — tương ứng gần đúng với CB240, CB300, CB400 nhưng không phải là một, nên khi thay thế vật liệu phải hỏi lại đơn vị thiết kế.

Lớp bê tông bảo vệ. Là khoảng cách từ mép ngoài bê tông đến mặt ngoài cốt thép, ghi bằng mm. Ghi chú chung thường cho một bảng theo loại cấu kiện: móng tiếp đất dày hơn, sàn trong nhà mỏng hơn. Đây là con số quyết định kích thước thật của thanh thép khi gia công, và là chỗ dễ sai nhất khi bóc khối lượng.

Chiều dài neo và nối. Ghi dạng 30d, 40d, nghĩa là 30 hoặc 40 lần đường kính thanh thép đó. Với thép Ø16 thì 30d là 480 mm. Trên các tờ sau, chỗ nối thép thường chỉ ghi vắn tắt "nối theo ghi chú chung" — không đọc tờ này thì không biết nối bao nhiêu.

Ngoài bốn nhóm trên, ghi chú chung còn quy định đơn vị đo và quy ước làm tròn. Bản vẽ kết cấu ở Việt Nam gần như luôn dùng milimét. Và tờ này chứa câu quan trọng nhất trong mọi bộ hồ sơ: kích thước ghi bằng số có giá trị cao hơn kích thước đo trên hình vẽ. Nghĩa là khi con số và hình vẽ mâu thuẫn, tin con số.

Đọc mặt bằng móng: đài, giằng và cọc

Mặt bằng móng là tờ đầu tiên có hình. Trên đó có ba nhóm đối tượng.

Đài móng là khối bê tông đỡ chân cột, ký hiệu M1, M2, Đ1... Trên mặt bằng nó là hình chữ nhật đặt dưới vị trí cột, có ghi kích thước và tên. Tên đó dùng để tra sang tờ chi tiết móng.

Giằng móng là dầm nối các đài với nhau, ký hiệu GM, DM. Nó có tác dụng giữ cho các móng không lún lệch và đỡ tường tầng trệt. Trên mặt bằng, giằng là dải hẹp nối giữa hai đài.

Cọc, nếu là móng cọc, thể hiện bằng hình vuông hoặc hình tròn nhỏ nằm trong phạm vi đài, có đánh số và thường kèm bảng tọa độ cọc. Số cọc dưới mỗi đài quyết định kích thước đài, nên khi kiểm tra chéo hai con số này phải khớp nhau.

Đây cũng là phần được dạy ngay buổi 2 của khóa Đọc bản vẽ xây dựng, vì không đọc được mặt bằng móng thì không lần ra được phần còn lại của tập hồ sơ.

Việc cần làm khi đọc tờ này: đối chiếu vị trí từng đài móng với vị trí cột trên mặt bằng kết cấu tầng một. Cột nào không có móng bên dưới là hồ sơ có vấn đề, và đây là lỗi thật, không hiếm.

Đọc mặt bằng kết cấu tầng: trục, cột, dầm, sàn

Mỗi tầng có một tờ mặt bằng kết cấu. Đây là tờ dùng nhiều nhất và cũng là tờ nên đọc chậm nhất.

Hệ lưới trục là bộ khung tọa độ của cả công trình, đánh số theo một phương và đánh chữ theo phương kia. Mọi cấu kiện đều được định vị theo trục, và mọi tờ bản vẽ khác đều dùng chung hệ trục này. Đọc bản vẽ kết cấu mà không bám trục thì không đối chiếu được giữa các tờ.

Cột thể hiện bằng tiết diện bị cắt ngang, thường tô đậm hoặc gạch chéo, ghi tên C1, C2 kèm kích thước dạng rộng nhân cao, ví dụ 300×500.

Dầm thể hiện bằng hai nét song song, và khoảng cách giữa hai nét chính là bề rộng dầm. Kiểu nét cho biết nhìn thấy hay không. Phần bị sàn che thì vẽ nét đứt, và đó là hầu hết các mép dầm bên trong. Phần nhìn thấy được thì vẽ nét liền: điển hình nhất là mép ngoài của dãy dầm bao quanh sàn — không có gì che nên nó chính là đường bao thấy được của cả sàn tầng. Mép ô trống thang, ô kỹ thuật và dầm nổi lên trên mặt sàn cũng vẽ nét liền theo nguyên tắc đó.

Đây là điểm gây nhầm nhiều nhất với người quen đọc bản vẽ kiến trúc, nơi nét đứt mang nghĩa khác. Dầm ghi tên D1, DP1 kèm tiết diện, ví dụ 220×400 là rộng 220 mm, cao 400 mm; tên thường viết dọc theo thân dầm.

Sàn ghi dạng S1 (h = 120) — sàn loại 1, dày 120 mm. Ô sàn có thép khác nhau thì đánh số khác nhau.

Mặt bằng kết cấu tầng: hệ lưới trục, cột tô đậm, dầm vẽ nét đứt vì nằm dưới sàn, ô sàn ghi chiều dày Ảnh: Hình vẽ của Viện Tin học Xây dựng

Trên cùng một tờ, cách ghi tên chính là đường dẫn sang tờ chi tiết. Thấy D1 trên mặt bằng thì tra tờ chi tiết dầm tìm D1. Bộ ký hiệu đầy đủ kèm hình vẽ nằm ở bài Ký hiệu bản vẽ xây dựng, phần bảng tra ký hiệu kết cấu.

Đọc mặt cắt dầm và cột: phân biệt thép chủ với cốt đai

Đây là phần lõi của bản vẽ kết cấu, và cũng là phần mà tài liệu trên mạng hầu như không giải thích.

Trong một mặt cắt dầm hoặc cột, cốt thép chia làm hai loại có vai trò hoàn toàn khác nhau.

Thép chủ, còn gọi là thép dọc, chạy dọc theo chiều dài cấu kiện. Trên mặt cắt, mỗi thanh thép chủ bị cắt ngang nên hiện ra là một chấm tròn đậm. Đếm số chấm là biết số thanh. Thép chủ chịu lực chính: ở dầm, thanh phía dưới chịu kéo ở giữa nhịp, thanh phía trên chịu kéo ở gối.

Cốt đai, còn gọi là thép đai, là vòng thép khép kín bao quanh bó thép chủ, đặt lặp lại theo chiều dài cấu kiện. Trên mặt cắt, nó hiện ra là một đường viền khép kín ôm lấy các chấm tròn. Cốt đai giữ thép chủ đúng vị trí và chịu lực cắt.

Vòng đai phải khép kín: hai đầu gặp nhau ở một góc và mỗi đầu uốn thành móc 135° quặp vào lòng tiết diện. Chi tiết nhỏ này là thứ làm nên tác dụng của đai: khi bê tông nứt hoặc bị nén vỡ ở mặt ngoài, móc neo vào phần lõi bê tông còn nguyên nên đai không bung ra. Trên mặt cắt, vòng đai hiện ra khép kín, và ở góc có hai vạch chéo ngắn kẹp sát hai bên thanh thép chủ. Một móc đi ra từ cạnh trên, một từ cạnh bên, cả hai chúc vào lòng tiết diện. Đó chính là hai cái móc đang ôm lấy cốt dọc. Thấy vòng đai vẽ khép kín trơn, không móc, thì đó là hình giản lược chứ không phải chi tiết thi công.

Mặt cắt dầm với chú thích: thép chủ lớp trên và lớp dưới là các chấm tròn, cốt đai là vòng khép kín bao quanh, kèm lớp bê tông bảo vệ Ảnh: Hình vẽ của Viện Tin học Xây dựng

Cách ghi hai loại này khác hẳn nhau, và đây là chỗ phải nhớ:

Ghi trên bản vẽĐọc làÁp dụng cho
4Ø16Bốn thanh, đường kính 16 mmThép chủ — đếm theo số thanh
2Ø18Hai thanh, đường kính 18 mmThép chủ
Ø8a150Thép đường kính 8, đặt cách nhau 150 mmCốt đai, thép sàn — đếm theo bước
Ø8a100/200Bước 100 ở hai đầu, bước 200 ở giữaCốt đai dầm, cột
Giải mã cách ghi thép: 4Ø20 là bốn thanh đường kính 20 mm, còn Ø8a150 là thép Ø8 đặt cách nhau 150 mm Ảnh: Hình vẽ của Viện Tin học Xây dựng

Khác biệt cốt lõi: thép chủ ghi bao nhiêu thanh, cốt đai ghi cách nhau bao nhiêu. Chữ a chính là bước đặt thép. Nhầm hai cách ghi này là nguồn gốc của phần lớn sai sót khi bóc khối lượng thép.

Ký hiệu Øϕ đều chỉ đường kính, dùng lẫn nhau tùy đơn vị thiết kế.

Về mặt tiêu chuẩn, cách thể hiện cốt thép có TCVN 6084:2012 – Bản vẽ xây dựng, thể hiện cốt thép và bản vẽ thi công kết cấu bê tông cốt thép có TCVN 5572:2012, cả hai đều còn hiệu lực. Nhưng trong thực tế, phần lớn công ty thiết kế vẽ theo bộ quy ước riêng của mình, không bám sát từng nét của tiêu chuẩn. Lý do đơn giản: nhiều ký hiệu trong tiêu chuẩn trình bày không đẹp, và mỗi đơn vị có thói quen thể hiện khác nhau. Điều đó không sai, miễn là bộ hồ sơ nhất quán và có chú giải.

Hệ quả cho người đọc rất thực tế: đừng học thuộc một bộ ký hiệu rồi áp cho mọi hồ sơ. Việc đầu tiên khi cầm một tập bản vẽ lạ là tìm bảng chú giải và tờ ghi chú chung của chính tập đó. Cái bất biến giữa mọi đơn vị thiết kế là cấu trúc — thép chủ đếm theo số thanh, cốt đai ghi theo bước, mặt bằng dẫn sang chi tiết bằng tên cấu kiện. Cái thay đổi là nét vẽ. Nắm cấu trúc thì đọc được hồ sơ của bất kỳ ai.

Một điểm nữa hay bị bỏ qua: cốt đai dầm và cột thường dày ở hai đầu, thưa ở giữa, vì vùng gần gối chịu lực cắt lớn hơn. Khi thấy ghi Ø8a100/200, đó không phải là hai phương án chọn một, mà là hai vùng khác nhau trên cùng một cấu kiện.

Thép sàn, cầu thang và các chi tiết cấu tạo

Ba nhóm tờ này hay bị bỏ sót khi người mới đọc hồ sơ, mà lại chiếm phần lớn khối lượng thép của công trình.

Mặt bằng bố trí thép sàn thường tách riêng khỏi mặt bằng kết cấu, và tách tiếp thành thép lớp dưới với thép lớp trên — hai tờ, hoặc một tờ nhưng vẽ hai màu, hai kiểu nét. Thép sàn ghi theo bước, ví dụ Ø10a200. Có ba thứ phải để ý. Thép mũ ở gối là các thanh lớp trên vươn qua dầm rồi cắt, luôn ghi kèm chiều dài vươn. Thép gia cường đặt quanh lỗ thang, lỗ kỹ thuật và chỗ có tường xây trực tiếp lên sàn. Cuối cùng là phương đặt thép, vì sàn kê bốn cạnh và sàn một phương bố trí khác hẳn nhau.

Cầu thang có tờ riêng, thường gồm mặt bằng thang, mặt cắt dọc thang và chi tiết bản thang. Bản thang là một tấm bê tông nghiêng, nên thép của nó cũng đặt nghiêng theo và neo vào dầm chiếu nghỉ, dầm chiếu tới. Đọc tờ này phải bám mặt cắt dọc chứ không bám mặt bằng, vì mặt bằng không cho thấy độ nghiêng.

Chi tiết cấu tạo gom những cấu kiện nhỏ mà mặt bằng kết cấu không thể hiện: lanh tô trên cửa, giằng tường, ô văng, sê nô, bể nước mái, lõi thang máy, chi tiết neo tường vào cột. Chúng nhỏ nhưng nhiều, và cộng lại là một phần đáng kể của khối lượng thép — bỏ sót nhóm này là lỗi thường gặp nhất khi bóc khối lượng lần đầu.

Đọc bảng thống kê thép

Bảng thống kê thép là tờ nối giữa bản vẽ và công trường, cũng là tờ mà người làm dự toán dùng nhiều nhất. Cấu trúc bảng thường gồm: số hiệu thanh, hình dạng thanh sau khi uốn kèm kích thước từng đoạn, đường kính, chiều dài một thanh, số thanh, tổng chiều dài, và khối lượng.

Bảng thống kê thép và ba phép kiểm: đối chiếu số hiệu với hình vẽ, kiểm chiều dài một thanh, kiểm tổng khối lượng Ảnh: Hình vẽ của Viện Tin học Xây dựng

Ba việc cần làm khi đọc bảng này.

Đối chiếu số hiệu với hình vẽ. Mỗi thanh trong bảng có một số hiệu, và số hiệu đó phải tìm thấy trên mặt cắt hoặc hình khai triển. Thanh có trong bảng mà không thấy trên hình, hoặc ngược lại, là dấu hiệu bản vẽ chưa khớp.

Kiểm tra chiều dài thanh. Chiều dài trong bảng là chiều dài thật sau khi trừ lớp bê tông bảo vệ hai đầu và cộng thêm phần móc uốn, phần neo. Nếu chiều dài trong bảng đúng bằng kích thước phủ bì của cấu kiện thì bảng đó lập sai.

Kiểm tra tổng khối lượng. Nhân chiều dài với khối lượng trên mét dài của từng đường kính rồi cộng lại, so với dòng tổng. Đây là phép thử mất mười lăm phút và bắt được lỗi số học ngay.

Với người làm dự toán, bảng thống kê thép là đầu vào trực tiếp. Bài Bóc tách khối lượng là gì? mô tả những lỗi hay mắc khi chuyển từ bảng này sang bảng khối lượng.

Bản vẽ kết cấu thép khác gì

Nhà xưởng, nhà thép tiền chế và các chi tiết sắt dùng một bộ quy ước riêng, nên nếu hồ sơ bạn cầm là kết cấu thép thì đọc theo hướng khác.

Cấu kiện không ghi bằng tiết diện bê tông mà bằng ký hiệu thép hình: I200 là thép chữ I cao 200 mm, H300×300 là thép H, L50×50×5 là thép góc hai cạnh 50 mm dày 5 mm, ☐100×50×2 là thép hộp. Thay cho cốt thép và cốt đai, phần chi tiết tập trung vào liên kết: bản mã, bu lông (ghi số lượng và đường kính, ví dụ 4M20), và mối hàn với ký hiệu riêng chỉ loại đường hàn cùng chiều cao đường hàn.

Bộ hồ sơ kết cấu thép còn có thêm một lớp bản vẽ mà bê tông cốt thép không có: bản vẽ chế tạo, thường gọi là shop drawing, vẽ riêng từng cấu kiện để xưởng cắt và khoan. Bài Shop drawing kết cấu thép từ Tekla mô tả lớp bản vẽ này.

Bảy lỗi đọc bản vẽ kết cấu hay gặp

Bỏ qua ghi chú chung và bảng chú giải. Hệ quả là không biết lớp bảo vệ, không biết chiều dài neo nối, và không biết đơn vị thiết kế này quy ước ký hiệu ra sao — mọi phép tính chiều dài thép sau đó đều lệch.

Nhầm nét đứt của dầm với đường ẩn kiến trúc. Trên mặt bằng kết cấu, nét đứt gần như luôn là dầm nằm dưới sàn.

Đọc 220×400 ngược. Quy ước là rộng nhân cao. Đọc ngược thành cao 220 rộng 400 là sai cả tiết diện lẫn khối lượng bê tông.

Nhầm 4Ø16 với Ø16a4. Cái đầu là bốn thanh, cái sau là bước đặt. Đây là lỗi nặng nhất về khối lượng.

Bỏ qua vùng bước đai dày ở hai đầu. Chỉ lấy bước thưa ở giữa để tính cho cả dầm thì thiếu thép đai đáng kể.

Không đối chiếu giữa các tờ. Cột trên mặt bằng tầng hai phải có cột tương ứng ở tầng một và móng bên dưới. Sàn có lỗ thang thì mặt bằng kết cấu và kiến trúc phải trùng vị trí lỗ.

Tin hình vẽ hơn con số. Bản vẽ in ra có thể không đúng tỷ lệ do phóng thu khi in. Quy ước trong mọi bộ hồ sơ là con số ghi có giá trị cao hơn.

Câu hỏi thường gặp

Ký hiệu mỗi công ty một khác thì học theo cái nào?

Học theo cấu trúc, không học theo nét vẽ. Số thanh, bước đặt, cách dẫn từ mặt bằng sang chi tiết, cách ghi tiết diện là những thứ gần như đơn vị nào cũng dùng chung. Riêng hình dạng ký hiệu thì mở bảng chú giải của chính tập hồ sơ đang cầm.

Người không học xây dựng có tự đọc được bản vẽ kết cấu không?

Đọc để hiểu công trình gồm những gì và thép đặt ra sao thì được, sau vài buổi có người hướng dẫn. Đọc để kiểm tra thiết kế đúng hay sai thì không, vì việc đó cần kiến thức tính toán kết cấu chứ không chỉ kỹ năng đọc bản vẽ.

Ø8a150Ø8@150 có khác nhau không?

Không. Ký hiệu a là cách ghi phổ biến ở Việt Nam, @ là cách ghi theo tài liệu nước ngoài. Cả hai đều có nghĩa là bước đặt thép 150 mm.

Vì sao cùng một dầm mà mỗi tờ ghi tiết diện khác nhau?

Thường là do có nhiều loại dầm cùng tên gọi ở các tầng khác nhau, hoặc hồ sơ đã qua chỉnh sửa mà chưa cập nhật hết. Gặp trường hợp này phải hỏi lại đơn vị thiết kế, không tự chọn con số nào.

Bản vẽ kết cấu và bản vẽ kiến trúc lệch nhau thì tin bên nào?

Về kích thước bao và vị trí cấu kiện chịu lực, tin bản vẽ kết cấu. Nhưng lệch giữa hai bộ là vấn đề phải được xử lý bằng văn bản trước khi thi công, không phải bằng suy đoán của người đọc.

Học đọc bản vẽ kết cấu mất bao lâu?

Để đọc hiểu một bộ hồ sơ nhà dân dụng, khoảng sáu buổi có hướng dẫn cộng với vài bộ hồ sơ tự luyện. Để đọc nhanh và phát hiện được mâu thuẫn giữa các tờ thì cần thời gian làm việc thật, thường tính bằng vài tháng.

Bài viết liên quan

Về tác giả

GV. Nguyễn Bá Mùi — Giảng viên khóa Đọc bản vẽ xây dựng và các khóa ETABS, SAP2000, SAFE tại Viện Tin học Xây dựng – Trường Đại học Xây dựng Hà Nội; giám đốc điều hành một công ty tư vấn thiết kế kết cấu