Liên kết mô hình Revit là cách đưa mô hình của người khác vào dự án của mình mà không nhập nó vào tệp. Mô hình kia vẫn nằm ở tệp của nó; dự án của mình chỉ giữ một đường dẫn và một vị trí.
Nhờ vậy bên kia sửa gì, mình nạp lại là thấy ngay, mà tệp của mình không phình lên. Muốn học trọn khâu dựng mô hình rồi triển khai hồ sơ thì xem khóa Revit Architecture.
Link hay Import: chọn sai là hồ sơ phình và hết cập nhật
| Mục | Ý nghĩa |
|---|---|
| Link | Tham chiếu tới tệp ngoài. Sửa bên kia thì bên này thấy. Đây là cách phối hợp đúng |
| Import | Nhập hẳn nội dung vào tệp của mình. Tệp phình to, và về sau không cập nhật được |
Import chỉ dùng cho những thứ không bao giờ đổi nữa. Với bản vẽ CAD làm nền thì lựa chọn cũng tương tự, đã nói kỹ ở bài chèn CAD vào Revit.
Lệnh Link Revit và bảy cách định vị
Lệnh nằm ở tab Insert, panel Link, nút Link Revit.
| Số | Thành phần | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | Positioning | Dòng riêng ở đáy hộp, quyết định mô hình kia đặt vào đâu. Đây là ô quan trọng nhất, và cũng là ô hay chọn sai nhất |
| Cách định vị | Khi nào dùng |
|---|---|
| Auto - Center to Center | Chồng tâm hai mô hình. Nhanh nhưng gần như luôn sai, vì tâm phụ thuộc vào có bao nhiêu thứ trong mô hình |
| Auto - Internal Origin to Internal Origin | Chồng gốc nội bộ hai tệp. Đây là mặc định, và đúng khi cả hai bên cùng dựng từ một gốc chung |
| Auto - By Shared Coordinates | Dùng toạ độ chung đã khai. Đây là cách đúng cho dự án lớn có nhiều toà nhà |
| Auto - Project Base Point to Project Base Point | Chồng điểm gốc dự án của hai bên |
| Manual — Internal Origin, Base Point, Center | Ba cách đặt tay: người dùng tự bấm điểm đặt |
Thoả thuận gốc toạ độ là việc phải làm trước khi bắt đầu vẽ, không phải khi đã có mô hình. Cách gọn nhất cho nhà ở là mọi bộ môn cùng lấy giao của trục A và trục 1 làm gốc.
Một bẫy phải biết: không liên kết được một tệp đang mở trong cùng phiên Revit. Cách sửa là đóng tệp ấy rồi liên kết lại; nếu vẫn cần mở nó để xem thì làm một bản sao và liên kết bản sao.
| Số | Thành phần | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | Mô hình liên kết vừa nạp | Hai tệp khác gốc nội bộ nên mặt bằng bên kia chồng lệch, nét tràn ra ngoài khu đất |
| 2 | Mặt bằng của dự án chủ | Phần của chính mình: hệ trục, tên phòng và kích thước |
| 3 | Vùng xám phía sau | Vùng cắt của khung nhìn liên kết rộng hơn vùng cắt của khung nhìn chủ. Đây là dấu hiệu dễ thấy nhất khi hai mô hình lệch gốc |
Liên kết không chỉ để ghép kiến trúc với kết cấu. Trong hồ sơ quy hoạch hay nhà liền kề, người ta còn nạp mô hình công trình bên cạnh để xem nó che nắng và che tầm nhìn tới đâu.
Liên kết lồng nhau: Overlay khác Attachment ở đâu
Nạp một mô hình mà bản thân nó đang liên kết nhiều tệp khác, Revit hiện ngay một hộp báo.
| Số | Thành phần | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | Danh sách liên kết lồng | Chín tệp mà bản thân mô hình kia đang liên kết, gồm hạ tầng, kết cấu, nội thất, điện, điều hoà và cấp thoát nước |
| 2 | Lý do không hiện | Reference Type của chúng đặt là Overlay. Liên kết Overlay chỉ hiện ở đúng tệp chứa nó |
| 3 | Cách chữa | Mở Manage Links trong chính tệp kia và đổi Reference Type sang Attachment. Sửa ở tệp chủ không có tác dụng |
Overlay không truyền tiếp: người thứ ba liên kết mô hình của mình sẽ không thấy mô hình mình đang mượn. Đây là mặc định và là lựa chọn an toàn. Attachment truyền tiếp cả chuỗi, dễ dẫn tới tệp nặng và trùng lặp. Autodesk mô tả cơ chế này ở trang About Nesting Linked Models.
Hộp báo liên kết lồng chỉ hiện một lần và có ô Do not show me this message again. Nhiều người bấm bỏ qua, rồi sau đó không hiểu vì sao mô hình liên kết thiếu mất mấy bộ môn.
Hộp Manage Links của bản 2027 và đường dẫn tương đối
Nút Manage Links ở tab Insert mở bảng điều khiển của mọi liên kết trong dự án. Bản 2027 thiết kế lại hoàn toàn hộp này.
| Số | Thành phần | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | Liên kết Revit | Dấu tích xanh ở cột Status nghĩa là Revit tìm thấy và đã nạp xong |
| 2 | Path Type Relative | Đường dẫn tương đối: chép cả thư mục sang máy khác vẫn tìm được. Absolute thì đổi máy là đứt |
| 3 | Ảnh mất đường dẫn | Dấu tam giác vàng, đường dẫn tuyệt đối trỏ vào ổ đĩa của máy người dựng. Đây chính là lỗi tham chiếu treo |
Bản cũ chia hộp này thành các thẻ Revit, IFC, CAD Formats, DWF Markups, Point Clouds và Topography. Bản 2027 gộp tất cả vào một bảng có ô lọc và ô tìm, nên tài liệu cũ mô tả các thẻ ấy sẽ không khớp. Autodesk mô tả hộp mới ở trang Use the Manage Links Dialog.
Quy tắc thực tế về đường dẫn: để tất cả tệp của một dự án trong một cây thư mục, dùng đường dẫn tương đối, và gửi hồ sơ đi thì nén cả cây thư mục ấy chứ không gửi lẻ từng tệp.
Unload, Remove hay Reload, và cách làm nhạt mô hình bộ môn khác
| Lệnh | Làm gì |
|---|---|
| Unload | Gỡ tải. Mô hình biến khỏi màn hình nhưng đường dẫn vẫn còn, nạp lại được bất cứ lúc nào |
| Remove | Xoá hẳn liên kết khỏi dự án. Muốn dùng lại phải liên kết lại từ đầu |
| Reload | Nạp lại từ tệp gốc. Dùng khi bên kia báo đã cập nhật |
Revit cảnh báo rõ khi xoá: không hoàn tác được bằng Undo. Vì thế khi chỉ tạm thời không cần nhìn bộ môn kia, dùng Unload chứ đừng Remove.
Mô hình liên kết có mục riêng trong hộp Visibility/Graphics, ở thẻ Revit Links. Ở đó chọn By Host View để vẽ theo khung nhìn hiện hành, By Linked View để vẽ theo một khung nhìn của chính tệp liên kết, hoặc Custom để tự khai riêng.
Cách làm quen thuộc là đặt mô hình bộ môn khác thành nét nhạt bằng Custom rồi bật Halftone: bản vẽ kiến trúc vẫn rõ, mà vẫn thấy kết cấu nằm ở đâu. Cách dùng hộp này nằm ở bài ẩn hiện đối tượng trong Revit.
Copy/Monitor: giám sát trục và cao độ của bên kia
Liên kết cho phép nhìn thấy mô hình bên kia. Nhưng trục và cao độ thì không nên chỉ nhìn: hai bộ môn phải dùng chung một hệ trục, và khi một bên dịch trục thì bên kia phải biết.
| Nút | Làm gì |
|---|---|
| Copy/Monitor | Sao chép trục, cao độ, cột, tường, sàn từ mô hình liên kết và giám sát chúng |
| Coordination Review | Xem danh sách thay đổi mà bên kia đã làm với các đối tượng đang giám sát |
| Reconcile Hosting | Rà các cấu kiện đã mất vật chủ vì bên kia xoá tường hoặc sàn |
| Interference Check | Kiểm tra va chạm, nói ở mục dưới |
Hộp Options của Copy/Monitor có đúng năm thẻ: Levels, Grids, Columns, Walls, Floors. Đó là năm chủng loại sao chép và giám sát được, không có loại nào khác. Trong đó ô Reuse Levels with the same name bật sẵn và nên để bật, vì tắt đi thì mỗi lần sao chép Revit tạo thêm một cao độ mới trùng chỗ với cao độ cũ.
Khi bên kia sửa, Coordination Review cho bốn cách xử lý: Postpone để đó, Reject từ chối, Accept difference chấp nhận khác biệt, và Modify sửa theo bên kia.
Đừng dùng Copy/Monitor cho tường và sàn trừ khi thật cần: số lượng lớn, và mỗi thay đổi bên kia đều sinh ra một mục phải xử lý. Với nhà ở, giám sát cao độ và trục là đủ. Cách vẽ và sửa hệ trục nằm ở bài lưới trục trong Revit và cao độ.
Interference Check: kiểm tra va chạm trong Revit
Hai bộ môn cùng vẽ trong một khối không gian thì thế nào cũng có chỗ chồng nhau. Tìm ra chúng trên bản vẽ giấy rất khó; Revit làm việc đó bằng một lệnh.
| Số | Thành phần | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | Categories from bên trái | Chọn nguồn thứ nhất: Current Project hay một mô hình liên kết |
| 2 | Categories from bên phải | Chọn nguồn thứ hai. Hai bên khác nhau thì kiểm tra giữa hai mô hình; giống nhau thì kiểm tra trong nội bộ một mô hình |
| 3 | Selection | Ba nút All, None, Invert để đánh dấu nhanh cả cột |
Đừng đánh dấu tất cả các chủng loại ở cả hai bên. Kết quả sẽ ra hàng nghìn dòng, phần lớn là những chỗ chồng nhau bình thường như tường với sàn. Chạy từng cặp chủng loại một thì danh sách mới đọc được.
| Số | Thành phần | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 1 | Group by | Cách gom nhóm danh sách, mặc định theo hai chủng loại đối tượng |
| 2 | Danh sách va chạm | Mở từng nhánh ra là thấy từng cặp cấu kiện chồng nhau |
| 3 | Bốn nút | Show nhảy tới va chạm đang chọn; Export lưu báo cáo; Refresh chạy lại sau khi đã sửa; Close đóng |
Nút Refresh đáng nhớ: sửa xong một va chạm thì bấm Refresh, dòng ấy biến khỏi danh sách, không phải chạy lại lệnh từ đầu.
Nút Export lưu báo cáo ra tệp mở được bằng trình duyệt, mỗi dòng ghi đủ chủng loại, Family, kiểu và số hiệu của cả hai cấu kiện. Con số sau chữ id chính là thứ dán vào lệnh Select by ID ở tab Manage, panel Inquiry: Revit nhảy ngay tới cấu kiện ấy. Đây là cách xử lý báo cáo va chạm nhanh nhất khi làm việc với người ở xa.
Công cụ này có giới hạn của nó. Nó chỉ tìm va chạm hình học trong phạm vi tệp Revit và các mô hình liên kết, không đặt được dung sai hay luật kiểm tra. Khi hồ sơ nhiều bộ môn và cần quản lý va chạm theo đợt thì dùng công cụ chuyên dụng, xem bài Navisworks dùng để làm gì. Autodesk mô tả lệnh ở trang Interference Checking.
Làm thử: nạp một mô hình liên kết và chạy soát va chạm
Một bài ba mươi phút. Gói lại trọn trình tự liên kết mô hình Revit, cần hai tệp của cùng một công trình.
- Mở tệp chủ. Vào Insert, panel Link, nút Link Revit.
- Chọn tệp thứ hai, đặt Positioning là Auto - Internal Origin to Internal Origin, rồi Open.
- Nếu Revit báo không nạp được, kiểm tra xem tệp ấy có đang mở trong cùng phiên không.
- Xem mặt bằng: hai mô hình chồng đúng hay lệch. Ghi lại dấu hiệu nhận ra.
- Mở Manage Links, đọc cột Status và cột Path Type. Đổi Path Type sang Relative nếu đang là Absolute.
- Bấm Unload rồi Reload liên kết ấy, quan sát màn hình sau mỗi lần.
- Gõ
VG, sang thẻ Revit Links, đặt liên kết thành Custom rồi bật Halftone. - Vào Collaborate, panel Coordinate, chạy Interference Check giữa Walls của hai mô hình.
- Bấm Show ở một dòng để nhảy tới va chạm, rồi Export báo cáo ra tệp.
- Mở tệp báo cáo, chép một con số
id, dùng Select by ID ở tab Manage để nhảy tới cấu kiện đó.
Bước 6 cho thấy rõ khác biệt giữa gỡ tải và xoá; bước 10 là mẹo tiết kiệm nhiều thời gian nhất của cả bài.
Câu hỏi thường gặp
Link và Import khác nhau thế nào?
Link giữ đường dẫn tới tệp bên kia nên cập nhật được; Import nuốt hẳn nội dung vào tệp của mình, làm tệp phình to và về sau không cập nhật được nữa.
Vì sao mô hình liên kết chồng lệch lên mặt bằng của mình?
Hai tệp khác gốc nội bộ mà lại nạp bằng Center to Center. Nạp lại bằng Internal Origin to Internal Origin, hoặc dùng toạ độ chung nếu dự án có nhiều toà nhà.
Nạp mô hình vào nhưng thiếu mất mấy bộ môn, vì sao?
Các liên kết lồng bên trong đang đặt Reference Type là Overlay. Phải mở Manage Links trong chính tệp chứa chúng và đổi sang Attachment.
Interference Check của Revit có thay được Navisworks không?
Không hẳn. Nó chỉ tìm va chạm hình học trong tệp Revit và các mô hình liên kết, không đặt được dung sai hay luật kiểm tra theo đợt.
Bài viết liên quan
- Chèn CAD vào Revit — lựa chọn link hay import cho bản vẽ nền hai chiều
- Navisworks dùng để làm gì — khi nào phải chuyển sang công cụ soát va chạm chuyên dụng
- Lưới trục trong Revit và cao độ — hệ trục mà Copy/Monitor giám sát
- Ẩn hiện đối tượng trong Revit — thẻ Revit Links và cách làm nhạt mô hình bộ môn khác