Tin tức

Render trong Revit: vật liệu, chất lượng ảnh và thời gian chạy

Render trong Revit bản 2027: chỉnh vật liệu và tỷ lệ ảnh phủ, chọn mức chất lượng theo thời gian chạy đo thật, sửa độ phơi sáng và kết xuất trên đám mây.

  • TS. Nguyễn Mạnh Tuấn
  • 16 phút đọc
Ảnh kết xuất ngoại thất của công trình mẫu với nắng và hậu cảnh bầu trời Ảnh: Ảnh chụp trên Revit 2027 tại Viện

Câu hỏi thật của người đi tìm render trong Revit thường không phải "bấm nút nào", mà là "nên render bằng gì". Bài này trả lời cả hai, theo đúng thứ tự đó.

Phần lớn nội dung dành cho bộ kết xuất có sẵn trong bản 2027: vật liệu, tỷ lệ ảnh phủ, mức chất lượng kèm thời gian chạy đo thật, và độ phơi sáng. Muốn học trọn khâu dựng mô hình rồi triển khai hồ sơ thì xem khóa Revit Architecture.

Revit tự render được tới đâu, và khi nào cần phần mềm khác

Revit có sẵn bộ kết xuất riêng, không phải cài thêm gì. Nút Render nằm ở tab View, panel Presentation.

Panel Presentation trên tab View Ảnh: Ba nút Render, Cloud Rendering và Twinmotion

Nút Render mờ đi khi đang đứng ở khung nhìn mặt bằng, phải mở một khung nhìn ba chiều thì nó mới sáng. Đây là chỗ người mới mất thời gian nhiều nhất. Cách tạo và đặt khung nhìn ba chiều nằm ở bài phối cảnh trong Revit.

Bộ kết xuất sẵn có làm tốt việc gì và không làm tốt việc gì thì nên nói thẳng.

ViệcDùng bộ có sẵn của RevitNên dùng phần mềm khác
Ảnh kiểm tra phương án, gửi nội bộHợp. Chạy ngay trên mô hình đang mởKhông cần
Ảnh ngoại thất đưa chủ đầu tư duyệtLàm được, nhất là cảnh ban ngàyCân nhắc nếu cần nhiều ảnh
Ảnh nội thất nhiều đèn, chất lượng caoChạy được nhưng chậm và khó chỉnhNên chuyển sang bộ chuyên dụng
Dựng cảnh, thêm người, cây, hậu kỳKhông làm đượcBắt buộc phần mềm khác

Ưu điểm lớn nhất là không phải xuất mô hình đi đâu: sửa xong chạy lại là ảnh cập nhật theo, không có khâu đồng bộ nào để sai.

Khi công việc nghiêng hẳn về hình ảnh thì đường đi thông thường là mang mô hình sang phần mềm diễn hoạ chuyên dụng. Bài diễn họa kiến trúc là gì so sánh các nhánh ấy, và chỉ ra khác biệt giữa mức "đủ trình bày" và mức "giống ảnh chụp".

Vật liệu trong Revit: thẻ Graphics và thẻ Appearance

Đến bước này hình đã đúng hình học nhưng chưa đúng chất: tường vẫn màu xám mặc định, sàn vẫn phẳng lì.

Lệnh nằm ở tab Manage, panel Settings, nút Materials. Hộp Material Browser có ô tìm và danh sách vật liệu bên trái, năm thẻ bên phải.

ThẻNội dung
IdentityTên, mô tả, lớp, nhà sản xuất, đơn giá, mã ghi chú
GraphicsCách vật liệu hiện trên màn hình và trên bản vẽ in
AppearanceCách vật liệu hiện khi kết xuất. Đây là thẻ của bài này
PhysicalĐặc trưng cơ lý, dùng cho tính kết cấu
ThermalĐặc trưng nhiệt, dùng cho tính năng lượng

Ô Cost ở thẻ Identity chính là nguồn của cột Material: Cost trong bảng khối lượng, xem bài bảng thống kê trong Revit.

Thẻ Graphics của một vật liệu gỗ Ảnh: Ô Use Render Appearance và hai nhóm mẫu tô mặt, mẫu tô mặt cắt
SốThành phầnÝ nghĩa
1Use Render AppearanceÔ quan trọng nhất thẻ này. Bật lên thì màu tô bóng trên màn hình lấy thẳng từ vật liệu kết xuất, và hai ô Color với Transparency mờ đi
2Surface Pattern và Cut PatternMẫu ký hiệu vẽ trên mặt và trên mặt cắt. Đây là phần dùng cho bản vẽ

Ô Use Render Appearance là cầu nối giữa hai thẻ: bật lên thì màn hình và ảnh kết xuất cùng một màu, tắt đi thì đặt màu riêng cho màn hình để phân biệt các lớp cấu tạo. Phần mẫu tô dùng cho bản vẽ nói kỹ ở bài hatch trong Revit.

Thẻ Appearance của cùng vật liệu ấy Ảnh: Ô xem trước, nhóm tham số và ba ô bật tắt của thẻ Appearance
SốThành phầnÝ nghĩa
1Ô xem trướcMột khối lập phương phủ vật liệu. Đổi được sang hình cầu, hình tường và nhiều hình khác cho hợp loại vật liệu
2ParametersCác tham số của tài sản: ô Image trỏ tới tệp ảnh phủ, Reflectance ghi 0.03, còn Roughness trỏ tới một tệp ảnh nhám riêng
3Ba ô bật tắtTranslucency cho vật liệu trong mờ; Emissivity cho vật liệu tự phát sáng; Relief Pattern làm bề mặt gồ ghề

Reflectance là độ phản xạ, chạy từ 0 tới 1. Gỗ 0,03 là rất mờ; kính và kim loại đánh bóng nằm ở đầu kia của thang. Ô Roughness nhận cả một con số lẫn một tệp ảnh; nhận ảnh nghĩa là độ nhám đổi theo từng điểm, nên gỗ có chỗ bóng chỗ mờ.

Muốn sửa một vật liệu lấy từ thư viện thì phải nhân đôi tài sản trước, bằng nút nhỏ ở góc phải thẻ Appearance. Không nhân đôi mà sửa thẳng là mọi vật liệu dùng chung tài sản ấy cũng đổi theo.

Texture Editor và tỷ lệ ảnh phủ: chỗ làm ảnh lộ ra là giả

Bấm đúp vào ô Image ở thẻ Appearance để mở hộp Texture Editor. Đây là chỗ quyết định ảnh trông thật hay giả, và cũng là chỗ hay bị bỏ qua nhất.

Hộp Texture Editor Ảnh: Ba nhóm Position, Scale và Repeat của hộp Texture Editor
SốThành phầnÝ nghĩa
1PositionOffset dời ảnh theo hai phương và Rotation xoay ảnh. Nút hình xích khoá hai ô Offset đi cùng nhau
2ScaleSample Size là kích thước thật của một mảnh ảnh. Vật liệu mẫu ở đây ghi 457.20 mm rộng và 914.40 mm cao
3RepeatCách lặp ảnh theo hai phương, đặt sẵn là Tile, tức lát kín

Sample Size là ô phải sửa gần như mọi lần. Ốp gạch 600x600 thì gõ 600 vào cả hai ô; lát gỗ thanh 1200x150 thì gõ 1200 và 150. Không sửa thì viên gạch trên ảnh to bằng cả bức tường.

Hai con số 457.20 và 914.40 mm chính là 18 inch và 36 inch. Toàn bộ thư viện vật liệu đi kèm Revit đặt theo hệ Anh, nên vật liệu nào lấy thẳng từ thư viện cũng phải sửa lại tỷ lệ theo kích thước bán ở Việt Nam.

Cách kiểm tra nhanh nhất không cần chạy kết xuất: nhìn gần vào một mảng tường ở kiểu hiển thị Realistic, rồi so viên gạch trên hình với chiều cao một cánh cửa.

Hộp Rendering: bốn nhóm thiết lập

Kết xuất là bước cuối: Revit tính lại ánh sáng, vật liệu và bóng đổ để cho ra một ảnh giống ảnh chụp.

Hộp Rendering Ảnh: Nút Render, ô Region và nhóm Output Settings của hộp Rendering
SốThành phầnÝ nghĩa
1Nút Render và ô RegionNút Render chạy kết xuất. Ô Region giới hạn vùng cần tính, dùng để thử nhanh một góc thay vì chạy cả ảnh
2Output SettingsResolution chọn Screen hay Printer. Chọn Screen thì ảnh bằng đúng kích thước vùng vẽ đang hiện, ở đây là 1429 x 799 điểm ảnh và 4,4 MB

Vì Screen lấy đúng kích thước vùng vẽ, phóng to cửa sổ Revit trước khi kết xuất là ảnh to theo. Muốn ảnh in được thì chọn Printer rồi đặt độ phân giải theo điểm ảnh trên inch.

Bốn nhóm ấy còn mở được từ nút Edit ở dòng Rendering Settings trong bảng Properties. Hai đường vào, một nội dung.

Hộp Rendering Settings mở từ Properties Ảnh: Bốn nhóm Quality, Lighting, Background và Image
SốThành phầnÝ nghĩa
1QualityMức chất lượng, quyết định thời gian chạy
2LightingKiểu chiếu sáng và thiết lập nắng
3BackgroundHậu cảnh của riêng ảnh kết xuất
4ImageNút Adjust Exposure chỉnh độ phơi sáng

Các thiết lập này lưu theo từng khung nhìn và đưa được vào khung nhìn mẫu.

Chất lượng và thời gian chạy: bốn mức đo thật

Sáu mục trong ô chọn chất lượng Ảnh: Bốn mức đặt sẵn cùng hai mục Custom và Edit

Bốn mức đầu là mức đặt sẵn. Custom chỉnh riêng cho khung nhìn này, Edit mở hộp khai chi tiết.

Thời gian chạy phải biết trước khi hứa với ai. Bảng dưới đo trên một máy, ảnh 968 x 726 điểm ảnh, cảnh ngoại thất có cây và bóng đổ.

MứcThời gian chạyGhi chú
Draft17,5 giâyĐủ để xem bố cục và ánh sáng
Medium82,1 giâyGấp gần năm lần mức Draft
High323,3 giây, tức 5 phút 23 giâyLại gấp bốn lần mức Medium
BestQuá mười hai phút vẫn chưa xongPhải bấm Stop; trong lúc chạy máy nghẽn tới mức khó dùng phần mềm khác
Mỗi bậc chất lượng đắt gấp mấy lần bậc trước Ảnh: So sánh thời gian chạy bốn mức chất lượng trên cùng một cảnh

Con số tuyệt đối phụ thuộc máy, nhưng tỷ lệ thì ổn định: mỗi bậc đắt gấp khoảng bốn tới năm lần bậc trước. Nhớ tỷ lệ chứ đừng nhớ con số.

Thời gian cũng tăng theo kích thước ảnh. Cùng mức Draft nhưng ảnh lớn hơn, 1429 x 799 điểm ảnh, mất khoảng bốn mươi giây trên cùng máy ấy. Autodesk mô tả khác biệt giữa các mức ở trang About the Render Quality Setting.

Cách làm việc rút ra từ đó: thử bố cục và ánh sáng ở mức Draft nhiều lần, rồi mới chạy một lần ở mức cao vào lúc nghỉ trưa hay cuối ngày.

Hộp Rendering Progress Ảnh: Thanh tiến độ, nút Stop và ô tự đóng hộp khi chạy xong
SốThành phầnÝ nghĩa
1Nút StopDừng kết xuất giữa chừng. Bấm xong hiện hộp hỏi lại Yes hay No
2Close dialog when rendering is completeBật sẵn. Tắt đi thì hộp ở lại sau khi chạy xong, tiện khi cần đọc danh sách cảnh báo

Chiếu sáng, hậu cảnh và độ phơi sáng của ảnh

Sáu kiểu chiếu sáng Ảnh: Ba kiểu Exterior và ba kiểu Interior trong ô Scheme

Ba kiểu Exterior cho ảnh ngoại thất, ba kiểu Interior cho ảnh nội thất. Trong mỗi bộ ba, Sun only chỉ tính nắng, Artificial only chỉ tính đèn, Sun and Artificial tính cả hai.

Ảnh nội thất bắt buộc chọn kiểu Interior. Chọn nhầm Exterior thì Revit không tính ánh sáng phản xạ nhiều lần trong phòng, và ảnh ra tối đen.

Kiểu chiếu sáng nào dùng nắng thì hướng nắng vẫn lấy từ hộp Sun Settings, nên vị trí công trình phải khai đúng trước đã.

Tám kiểu hậu cảnh cho ảnh kết xuất Ảnh: Năm mức mây, một màu phẳng, một ảnh nền và một nền trong suốt

Năm kiểu Sky khác nhau ở lượng mây. Color là một màu phẳng, Image là ảnh nền, Transparent để nền trong suốt khi định ghép ảnh ở phần mềm khác. Hậu cảnh ở đây khác hẳn hậu cảnh trong Graphic Display Options: một cái cho ảnh kết xuất, một cái cho màn hình và bản in.

Hộp Exposure Control Ảnh: Năm thanh trượt của hộp Exposure Control
ÔGiá trị đặt sẵn và ý nghĩa
Exposure Value14.00. Giảm số là ảnh sáng lên — ô sửa đầu tiên khi ảnh tối
Highlights0.25. Chỉnh vùng sáng nhất, tránh cháy trắng
Shadows0.20. Tăng lên là chi tiết trong bóng rõ hơn
Saturation1.00. Độ rực của màu; tăng quá thì ảnh giả
White Point6500.0 kelvin. Giảm là ngả xanh lạnh, tăng là ngả vàng ấm

Hộp này sửa được cả sau khi đã kết xuất xong, và bấm Apply là ảnh đổi ngay, không phải chạy lại. Đây là chỗ tiết kiệm thời gian nhiều nhất: chạy một lần rồi chỉnh sáng tối bao nhiêu lần cũng được. Autodesk nói thêm về cách các ô này lưu vào khung nhìn ở trang Adjust the Exposure of a Rendered Image.

Kết xuất trong Revit trên đám mây và lỗi thường gặp

Hộp chào của dịch vụ kết xuất đám mây Ảnh: Ba bước của dịch vụ kết xuất trên máy chủ Autodesk

Máy của nhiều văn phòng nhỏ không đủ mạnh để chạy mức cao trong giờ làm việc. Nút Cloud Rendering gửi khung nhìn lên máy chủ Autodesk, còn Render Gallery mở trang xem và tải ảnh về.

Điểm mạnh là máy của mình rảnh ngay sau khi gửi, và gửi nhiều góc nhìn cùng lúc cũng được. Đổi lại có hai điều kiện: dự án phải lưu trước khi gửi, và tài khoản Autodesk phải có quyền dùng dịch vụ, số lần chạy tính theo hạn mức. Nên kiểm tra hạn mức trước khi hứa tiến độ.

LỗiNguyên nhân và cách xử lý
Nút Render mờĐang ở khung nhìn hai chiều. Mở khung nhìn ba chiều rồi thử lại
Ảnh nội thất tối đenChọn nhầm kiểu chiếu sáng Exterior. Đổi sang kiểu Interior
Ảnh ngoại thất tốiLỗi phơi sáng. Giảm ô Exposure Value, không phải chạy lại
Viên gạch to bằng cả bức tườngChưa sửa Sample Size trong Texture Editor
Ảnh lấm tấm hạt, bóng viền lởm chởmMức chất lượng thấp. Chạy lại ở mức cao hơn
Chạy mãi không xongChất lượng quá cao so với máy. Bấm Stop, hạ một bậc

Hai dòng cuối hay bị lẫn. Ảnh lấm tấm hạt là lỗi chất lượng, phải chạy lại ở mức cao hơn. Ảnh tối là lỗi phơi sáng, sửa ở ô Exposure Value mà không cần chạy lại.

Làm thử: từ vật liệu tới ảnh xuất ra tệp

Một bài bốn mươi phút. Làm trên mô hình đã có một khung nhìn phối cảnh.

  1. Mở Manage rồi Materials. Tìm vật liệu đang gán cho tường ngoài, ghi lại tên và lớp.
  2. Sang thẻ Appearance, ghi lại tên tệp ảnh phủ và giá trị Reflectance.
  3. Bấm đúp ô Image để mở Texture Editor, ghi lại Sample Size hiện có.
  4. Đổi Sample Size thành kích thước thật của vật liệu định dùng, ví dụ 600 x 600.
  5. Xem lại khung nhìn ở kiểu Realistic và ghi nhận khác biệt.
  6. Vào View rồi Render, ghi lại Width, Height và dung lượng hộp báo.
  7. Chạy một lần ở mức Draft và bấm giờ.
  8. Chạy lại ở mức Medium, tính tỷ lệ giữa hai con số rồi so với bảng ở trên.
  9. Mở Adjust Exposure, giảm Exposure Value đi hai đơn vị rồi bấm Apply. Có phải chạy lại không?
  10. Bấm Save to Project, đặt tên ảnh, rồi Export lưu ra tệp.

Bước 8 đáng giá nhất: tỷ lệ đo trên máy của mình mới là con số dùng để hẹn tiến độ.

Hộp Rendering sau khi chạy xong Ảnh: Hai nút Save to Project, Export và nút đổi qua lại giữa ảnh với mô hình
SốThành phầnÝ nghĩa
1Save to Project và ExportHai nút mờ lúc đầu, chạy xong mới sáng. Save to Project lưu ảnh vào chính tệp dự án, thành một mục trong nhánh Renderings; Export lưu ra tệp ảnh ngoài
2Show the modelĐổi qua lại giữa ảnh kết xuất và mô hình. Chưa chạy thì nó ghi Show the rendering

Nên bấm Save to Project trước khi Export: ảnh lưu trong dự án đi theo tệp, người khác mở ra là thấy ảnh đã duyệt.

Câu hỏi thường gặp

Render trong Revit có cần cài thêm phần mềm gì không?

Không. Bộ kết xuất nằm sẵn trong Revit, chạy ngay trên khung nhìn ba chiều đang mở. Phần mềm ngoài chỉ cần khi công việc nghiêng về chất lượng hình ảnh và hậu kỳ.

Ảnh nội thất kết xuất ra tối đen thì sửa thế nào?

Nguyên nhân thường gặp nhất là chọn nhầm kiểu chiếu sáng Exterior. Đổi sang một kiểu Interior; nếu vẫn tối thì giảm Exposure Value.

Vì sao viên gạch trên ảnh to bằng cả bức tường?

Vì Sample Size trong Texture Editor còn nguyên giá trị của thư viện, vốn đặt theo hệ Anh. Gõ đúng kích thước thật của vật liệu vào hai ô Width và Height.

Bài viết liên quan

Về tác giả

TS. Nguyễn Mạnh Tuấn — Giảng viên BIM tại Viện Tin học Xây dựng – Trường Đại học Xây dựng Hà Nội